TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
BẢN ÁN 92/2024/HS-PT NGÀY 18/09/2024 VỀ TỘI TỔ CHỨC ĐÁNH BẠC
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 31/2024/TLPT-HS ngày 18 tháng 3 năm 2024, đối với bị cáo Phương Gia S và 17 bị cáo khác, do có kháng cáo của các bị cáo Cao Đức T, Phạm Hữu T1, Lục Minh T2 và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 135/2023/HS-ST ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
- Các Bị cáo có kháng cáo và bị kháng nghị:
1. Phương Gia S, sinh năm 1982, tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Khu phố B, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phương Vĩnh Y (chết) và bà Nguyễn Thị K; Vợ Nguyễn Huỳnh Ý N và con 03 người; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
2. Lục Minh T2, sinh năm 2002, tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lục Minh B và bà Phan Thị B1; 01 tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2020/HSST ngày 25/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận đã xử phạt Lục Minh T2 04 năm tù về tội “Giết người”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/12/2022; chưa xóa án tích; Tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
3. Nguyễn Ngọc H, sinh năm 2002, tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc E và bà Nguyễn Thị S1; Tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
4. Phạm Hữu T1 (T), sinh năm 1983, tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Khu phố E, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn B2 và bà Nguyễn Thị Tuyết N2; vợ Huỳnh Thị Kim N3 và 01 con; 03 Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2003/HSST ngày 07/3/2003 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xử phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2004/HSST ngày 24/02/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xử phạt 18 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2008/HSST ngày 07/8/2008 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xử phạt 08 năm tù về tội “Cướp tài sản” và 04 năm tù về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” và 02 năm 06 tháng tù về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”, Tổng hợp hình phạt của 03 tội là 14 năm 06 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/3/2022, chưa xóa án tích; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28/11/2000, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B ra Quyết định đưa vào Trường G2 trong thời hạn 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 28/02/2002; Ngày 13/10/2002 bị Công an huyện T xử phạt hành chính về hành vi “Đánh người gây thương tích” bằng hình thức Cảnh cáo, ngày 09/8/2007 bị Công an huyện T xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”; bị cáo tại ngoại; có mặt.
5. Cao Hữu C, sinh năm 1997, tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Khu phố D, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Thanh M và bà Nguyễn Thị Thu H1; Tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
6. Ngô Văn P, sinh năm 1977, tại tỉnh Bình Thuận, nơi cư trú: Khu phố E, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận, nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn S2 (chết) và bà Phạm Thị G; vợ: Tạ Thị T3 và 02 con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
7. Vũ Thế K1, sinh năm 1983, tại tỉnh Bình Thuận, nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đình T4 và bà Bành Thế Đ; vợ Nguyễn Thị Kim L và 04 con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
8. Lê Lâm Thanh T5, sinh năm 2001, tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Khu phố F, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H2 và bà Lâm Thị Thảo S3; vợ Phạm Thủy T6 và 02 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
9. Trần Văn V, sinh năm 1983, tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Khu phố G, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam, con ông Trần Văn Á và bà Nguyễn Thị Kim C1; vợ Trần Ngọc Q và 02 con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
10. Châu Nhật N4, sinh năm 1996, tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Khu phố D, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Châu Văn T7 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N2; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
11. Phạm Hữu H3, sinh năm 1993, tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Thợ chụp ảnh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hữu N5 và bà Nguyễn Thị Kiều N6; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
12. Nguyễn Văn L1, sinh năm 2000, tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trung G1 và bà Nguyễn Thị L2 (Chết); vợ Lưu Thị Kim N7 và 01 con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
13. Cao Đức T (T), sinh năm 1993, tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Đức N8 và bà Nguyễn Thị Hồng H4; vợ Dương Thị Thanh T8 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 25/7/2011, bị Công an huyện T phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; ngày 23/7/2021, bị Công an huyện T xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, nộp phạt ngày 29/7/2021; ngày 03/11/2022, có hành vi “Đánh bạc”, bị khởi tố bị can và đang điều tra làm rõ để xử lý; hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T; có mặt.
14. Trần Tấn Q1, sinh năm 1987, tại tỉnh Bình Thuận, nơi cư trú: Khu phố F, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận, nghề nghiệp: Xây dựng; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C2 và bà Nguyễn Thị Cẩm V1; vợ Nguyễn Thị Thùy L3 và 01 con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
15. Dương Hồng T9 (V2), sinh năm 1995, tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn S4 và bà Mai Thị H5; vợ Nguyễn Thị L4; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 111/2013/HSST ngày 26/12/2013 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xử phạt Dương Hồng T9 12 tháng tù, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, chấp hành xong hình phạt ngày 06/02/2015; bị cáo tại ngoại; có mặt.
16. Nguyễn Thanh T10 (Tèo đen), sinh năm 1977, tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận, nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh T11 và bà Nguyễn Thị H6; vợ Nguyễn Thị Thanh T12 và 02 con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
17. Nguyễn Khắc H7 (L5), sinh năm 1980, tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Khu phố F, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nơi tạm trú: Khu phố E, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn H8 và bà Phạm Thị S5 (Chết); vợ Nguyễn Huỳnh M1 và 04 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 127/2000/HSST ngày 18/10/2000 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xử phạt Nguyễn Khắc H7 15 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản của công dân”, đã xóa án tích; ngày 23/7/2021, bị Công an huyện T xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, chấp hành nộp phạt vào ngày 29/7/2021; bị cáo tại ngoại; có mặt.
18. Lê Thiết K2, sinh năm 1988, tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Thợ điện; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thiết H9 và bà Trần Thị H10; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
- Người bảo chữa cho bị cáo Phạm Hữu T1: Luật sư Trần Xuân H11, là thành viên Văn phòng L6 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T; Địa chỉ: Số nhà A, đường T, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng từ ngày 10/02/2023 đến ngày 24/02/2023, Phương Gia S tổ chức cho những người đánh bạc đến chơi đổ mèo tại nhà diễn ra từ 4 đến 5 ngày, có ngày chơi và ngày nghỉ. S nhờ Lục Minh T2 sắp xếp xe máy của những người đến chơi bạc cho gọn gàng và nhờ Nguyễn Ngọc H đi mua đồ ăn thức uống và dọn dẹp rửa ly chén và cảnh giới. Phương Gia S thu tiền xâu 100.000 đồng cho mỗi ván đổ “Bảo” và dùng tiền này phục vụ cho việc ăn uống của những người chơi bạc và trả tiền thù lao cho Lục Minh T2, Nguyễn Ngọc H từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng/ngày; S thu lợi cá nhân 200.000 đồng/ngày.
Vào ngày 24/02/2023, S cho các con bạc đến tham gia đánh bạc, hình thức đánh bạc là “Đổ mèo” bằng các hột xí ngầu, quy định làm cái xoay vòng, gồm 06 tụ (nhà) chính, mỗi người sẽ làm cái (nhà cái) 02 lượt, số tiền đặt cược tùy vào nhà cái cho các nhà con đặt từng ván khác nhau và có 16 nhà con tham gia, với tỷ lệ 1:1 như sau:
Trường hợp 1: Nếu nhà cái đổ 03 hột xúc xắc mà 02 hột có mặt trùng nhau, 01 hột có mặt khác nhau thì sẽ căn cứ vào số điểm của hột khác nhau làm số điểm của nhà cái. Nếu nhà cái 01 điểm là nhỏ nhất, 06 điểm là lớn nhất.
Trường hợp 2: Nếu 03 mặt của hột xúc xắc là 01 đến 03 điểm thì khi nhà cái đổ trước sẽ thua tất cả các nhà con, còn ngược lại nếu nhà cái đổ được các mặt xúc xắc là 04 đến 06 điểm hoặc 3 mặt xúc xắc giống nhau (Gọi là “Bảo”) thì nhà cái sẽ thắng hết số tiền của các nhà con đặt. Trong trường hợp này thì sau khi nhà cái đổ xong thì các nhà con không được đổ nữa mà xác định thắng thua ngay.
Trường hợp 3: Nếu nhà cái hoặc nhà con đổ các hột xúc xắc có số điểm không thuộc các trường hợp trên như: 02 điểm, 05 điểm và 06 điểm hoặc 01 điểm, 02 điểm và 05 điểm thì phải đổ lại cho đến khi có 02 con xúc xắc có mặt trùng nhau để tính điểm (Lấy số điểm của con còn lại) hoặc đổ ra các mặt xúc xắc như trường hợp 2 thì dừng lại và tính thắng thua; nếu nhà cái và nhà con đổ các hột xúc xắc giống nhau thì tính là hòa.
Đến khoảng 17 giờ 25’ ngày 24/02/2023, nhận được tin báo nên Công an huyện T phối hợp cùng Công an xã B, tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, gồm: Lục Minh T2, Nguyễn Ngọc H, Cao Hữu C, Ngô Văn P, Vũ Thế K1, Lê Lâm Thanh T5, Trần Văn V, Phạm Hữu H3, Nguyễn Văn L1, Cao Đức T, Phạm Hữu T1, Trần Tấn Q1, Châu Nhật N4, Dương Hồng T9, Nguyễn Thanh T10, Nguyễn Khắc H7, Lê Thiết K2, Nguyễn Thành T13, Nguyễn Thành T14 và Nguyễn Minh S6. Thu giữ: Tiền 14.800.000 đồng; 01 vỏ lon sữa bò màu trắng trong có 1.800.000 đồng; 01 tô sứ màu trắng và 03 hột xí ngầu; Thu giữ tại vị trí hộc tủ trong phòng khách nhà S6 số tiền 22.800.000 đồng; Thu giữ của Phương Gia S 01 camera, 02 thể nhớ; 01 điện thoại Iphone 11 màu vàng; Thu giữ 01 điện thoại Iphone màu vàng (không rõ chủ sở hữu), 01 xe mô tô Honda SH biển kiểm soát XB1-686.xx, 01 xe mô tô Honda Vario biển kiểm soát XB1-609.xx, 01 xe mô tô Yamaha Exciter biển kiểm soát XB1-470.xx, 01 xe mô tô Honda Vision biển kiểm soát XB1-249.xx, 01 xe mô tô Honda SH 150i biển kiểm soát 59T1-866.5x.
Quá trình điều tra xác định hành vi cụ thể và thu giữ tài sản của những người có mặt tại sòng bạc nhà Phương Gia S vào ngày 24/02/2023 như sau:
- Nguyễn Ngọc H: Bị thu giữ số tiền 1.050.000 đồng không dùng vào mục đích đánh bạc và 01 điện thoại Redmi A10 màu đen.
- Lục Minh T2: Ngày 24/02/2023, T2 mang theo số tiền 12.700.000 đồng để đánh bạc và bị thu giữ số tiền 12.400.000 đồng và một điện thoại di động hiệu VIVO II6 màu xanh. Khi đến nơi T2 được S phân công nhiệm vụ sắp xếp xe và trực tiếp tham gia đánh bạc ké vào tụ chính của Ngô Văn P 02 ván, số tiền kẻ mỗi ván là 150.000 đồng và thua hết 300.000 đồng.
- Cao Hữu C: Mang theo số tiền 8.080.000 đồng; sử dụng 8.000.000 đồng để đánh bạc; không rõ thắng thua. Khi bị bắt, C ném toàn bộ số tiền xuống chiếu bạc. Thu giữ của C 01 điện thoại di động Iphone 13 Pro max màu xanh, 01 điện thoại Iphone XSmax màu vàng, 01 xe môtô Honda SH biển kiểm soát XB1-622.9x, thu giữ trong túi quần của C số tiền 80.000 đồng không dùng vào mục đích đánh bạc.
- Châu Nhật N4: Mang theo số tiền 7.300.000 đồng, lấy ra 1.200.000 đồng để đánh bạc, cược 6 ván thì thua 550.000 đồng, còn lại 650.000 đồng. Khi bắt quả tang thu giữ số tiền 6.750.000 đồng trong đó: 650.000 đồng (số tiền này N4 dùng đánh bạc), nếu thua thì N4 lấy ra thêm 1.000.000 đồng để đánh bạc trong tổng số tiền 6.100.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền N4 dùng đánh bạc là 1.650.000 đồng; số tiền 5.100.000 đồng còn lại N4 không dùng vào mục đích đánh bạc và thu giữ của N4 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xanh lá.
- Ngô Văn P: Mang theo số tiền 31.100.000 đồng, lấy ra 1.000.000 đồng đánh bạc, chơi bị thua 400.000 đồng. Khi bắt P ném số tiền 600.000 đồng xuống chiếu bạc thì bị thu giữ. Ngoài ra, còn thu giữ trên người của P số tiền 30.100.000 đồng là tiền không sử dụng vào mục đích đánh bạc và 01 xe môtô Wave biển kiểm soát 86K7-924x.
- Vũ Thế K1: Mang theo trên người số tiền 4.015.000 đồng, lấy ra 1.015.000 đồng để đánh bạc, chơi thua 300.000 đồng. Khi bắt quả tang thu giữ trên người của K1 số tiền 3.715.000 đồng (trong đó: 715.000 đồng là tiền K1 dùng vào mục đích đánh bạc và 3.000.000 đồng không sử dụng vào mục đích đánh bạc), 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 pro màu đen, 01 điện thoại di động hiệu SamSung A12 màu đen và 01 xe môtô Yamaha Exciter biển kiểm soát XB1-217.2x.
- Lê Lâm Thanh T5: Mang theo số tiền 60.700.000 đồng, dùng 2.000.000 đồng để đánh bạc, chơi thắng 600.000 đồng. Khi bị bắt thu giữ trên người của T5 số tiền 61.300.000 đồng, trong đó: 2.600.000 đồng là tiền dùng vào mục đích đánh bạc và thắng được, số tiền 58.700.000 đồng không dùng vào mục đích đánh bạc, thu giữ 01 điện thoại di động Iphone 11 pro màu trắng và 01 xe môtô Honda Air Blade biển kiểm soát XB1-547.xx.
- Trần Văn V: Mang theo số tiền 12.200.000 đồng, dùng 4.000.000 đồng để đánh bạc, không xác định thắng thua. Khi bắt quả tang thu giữ trên người của V số tiền 12.200.000 đồng, trong đó: 4.000.000 đồng là tiền dùng đánh bạc và 8.200.000 đồng không dùng vào mục đích đánh bạc, thu giữ 01 điện thoại di động Nokia màu đen và 01 xe môtô Honda Winner X biển kiểm soát XB1-554.xx.
- Cao Đức T: Mang theo 28.100.000 đồng, dùng 3.000.000 đồng đánh bạc. T kè chơi 4 ván với số tiền 200.000 đồng/ván, chơi thắng 600.000 đồng. Khi bắt quả tang thu của T số tiền 600.000 đồng ném xuống chiếu bạc, thu giữ trên người 28.100.000 đồng, trong đó: Số tiền 3.000.000 đồng là tiền dùng vào mục đích đánh bạc và 25.100.000 đồng không dùng vào mục đích đánh bạc; thu giữ của T 01 điện thoại di động Iphone 11 pro màu vàng và 01 xe môtô Honda Vision biển số XB1-361.xx.
- Nguyễn Văn L1: Mang theo 8.300.000 đồng, dùng 800.000 đồng đánh bạc và chơi kè tụ của V với số tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng mỗi ván; chơi bị thua hết 800.000 đồng. Khi bắt quả tang thu giữ trên người L1 7.500.000 đồng không dùng vào mục đích đánh bạc và 01 điện thoại di động Iphone 11 pro max màu trắng.
- Dương Hồng T9: Mang theo 18.400.000 đồng, dùng 400.000 đồng để đánh bạc, chơi kè cùng với Nguyễn Thành T15 03 ván với số tiền cược 300.000 đồng/ván; chơi thắng 400.000 đồng. Khi bắt quả tang thu giữ số tiền 18.800.000 đồng, trong đó: 800.000 đồng là tiền dùng vào mục đích đánh bạc và 18.000.000 đồng không dùng vào mục đích đánh bạc, thu giữ của T9 01 điện thoại Iphone XS max màu vàng và 01 xe môtô Yamaha Exciter biển kiểm soát XB1-348.41.
- Nguyễn Thanh T10: Mang theo 48.600.000 đồng, dùng 14.600.000 đồng để đánh bạc; chơi thua 4.700.000 đồng. Khi bắt quả tang thu giữ của T10 số tiền 9.900.000 đồng là tiền dùng để đánh bạc và số tiền 34.000.000 không dùng vào mục đích đánh bạc và 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh và 01 xe môtô Honda Air Blade biển kiểm soát XB1-664.82.
- Nguyễn Khắc H7: Mang theo 10.500.000 đồng, dùng 2.000.000 đồng để đánh bạc; chơi kè ở các tụ nhà cái được 2 ván và thắng 200.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, H7 ném toàn bộ số tiền 2.200.000 đồng xuống chiếu bạc và bị thu giữ, ngoài ra còn thu giữ trên người H7 số tiền 8.500.000 đồng không dùng vào mục đích đánh bạc, thu giữ 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu vàng và 01 xe môtô Yamaha Exciter biển kiểm soát XB1-376.34.
- Phạm Hữu H3: Mang theo 13.600.000 đồng, dùng 600.000 đồng để đánh bạc, chơi kè ở các tụ chính P và K1 được 06 ván với số tiền cược là 100.000 đồng/ván, trong đó có 04 ván hòa, 02 ván thắng và thắng được số tiền 200.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, H3 ném toàn bộ số tiền 800.000 đồng xuống chiếu bạc và bị thu giữ. Thu giữ trên người H3 số tiền 13.000.000 đồng không dùng vào mục đích đánh bạc, thu giữ 01 điện thoại di động Iphone 13 pro màu vàng và 01 xe môtô Yamaha Exciter biển kiểm soát XB1-499.69.
- Phạm Hữu T1: Mang theo 7.000.000 đồng, dùng 2.000.000 đồng đánh bạc, T1 ké vào tụ chính của T5 với số tiền cược từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng mỗi ván, quá trình chơi thắng thua không rõ, khi bắt quả tang T1 ném tiền xuống chiếu bạc. Thu giữ trên người T1 số tiền 5.000.000 đồng không dùng vào mục đích đánh bạc, thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 promax màu trắng.
- Trần Tấn Q1: Mang theo 11.500.000 đồng, dùng 3.000.000 đồng đánh bạc và chơi 4 ván với số tiền cược mỗi ván 300.000 đồng/ván, quá trình chơi Q1 bị thua 600.000 đồng. Khi bắt quả tang thu giữ của Q1 số tiền 10.900.000 đồng trong đó: 2.400.000 đồng là tiền dùng vào mục đích đánh bạc và 8.500.000 đồng không dùng vào mục đích đánh bạc, thu giữ của Q1 01 điện thoại Iphone 11 promax màu xanh.
- Lê Thiết K2: Mang theo 2.500.000 đồng, dùng 500.000 đồng để đánh bạc và chơi 4 ván với số tiền cược 200.000 đồng/ván; thắng 500.000 đồng. Khi bắt quả tang K2 bỏ chạy. Đến ngày 23/5/2023, K2 giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T số tiền 3.000.000 đồng là tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc.
- Ngoài ra còn thu giữ của Nguyễn Thành T13 số tiền 10.050.000 đồng và 01 điện thoại OPPO màu trắng; thu giữ của Nguyễn Thành T14 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu vàng và thu giữ của Nguyễn Minh S6 số tiền 500.000 đồng và 01 điện thoại Iphone X, màu vàng.
Tổng cộng số tiền của Lục Minh T2, Cao Hữu C, Ngô Văn P, Vũ Thế K1, Lê Lâm Thanh T5, Trần Văn V, Phạm Hữu H3, Nguyễn Văn L1, Cao Đức T, Phạm Hữu T1, Trần Tấn Q1, Châu Nhật N4, Dương Hồng T9, Nguyễn Thanh T10, Nguyễn Khắc H7 và Lê Thiết K2 đã sử dụng vào việc đánh bạc là: 14.800.000 đồng (thu giữ tại chiếu bạc) + 1.800.000 đồng (tiền xâu bỏ trong vỏ lon sữa) + 1.000.000 đồng (thu giữ của Ngô Văn P) + 715.000 (thu giữ của Vũ Thế K1) + 4.000.000 đồng (thu giữ của Trần Văn V) + 2.600.000 đồng (thu giữ của Lê Lâm Thanh T5) + 3.000.000 đồng (thu giữ của Cao Đức T) + 2.400.000 đồng (Thu giữ của Trần Tấn Q1) + 1.650.000 đồng (Thu giữ của Châu Nhật N4) + 800.000 đồng (Thu giữ của Dương Hồng T9) + 9.900.000 đồng (Thu giữ của Nguyễn Thanh T10) + 3.000.000 đồng (Thu giữ của Lê Thiết K2) + 12.400.000 đồng (Thu giữ của Lục Minh T2) = 58.065.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 135/2023/HS-ST ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Phương Gia S và Nguyễn Ngọc H phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a, điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; bị cáo Lục Minh T2 phạm tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 và phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a, điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Phạm Hữu T1 phạm tội “Đánh bạc” theo điểm b, điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Cao Hữu C, Ngô Văn P, Vũ Thế K1, Lê Lâm Thanh T5, Trần Văn V, Phạm Hữu H3, Nguyễn Văn L1, Cao Đức T, Trần Tấn Q1, Châu Nhật N4, Dương Hồng T9, Nguyễn Thanh T10, Nguyễn Khắc H7 và Lê Thiết K2 phạm tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào điểm a, điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phương Gia S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 03 (ba) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2023).
Phạt bị cáo Phương Gia S 40.000.000 đồng (bốn chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H 01 (một) năm tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 02 (hai) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2023).
Phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H 20.000.000 đồng (hai chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Căn cứ vào điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Cao Hữu C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2023).
Phạt bị cáo Cao Hữu C 30.000.000 đồng (ba chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Ngô Văn P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2023).
Phạt bị cáo Ngô Văn P 30.000.000 đồng (ba chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Vũ Thế K1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2023).
Phạt bị cáo Vũ Thế K1 30.000.000 đồng (ba chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Lê Lâm Thanh T5 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2023).
Phạt bị cáo Lê Lâm Thanh T5 30.000.000 đồng (ba chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Trần Văn V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2023).
Phạt bị cáo Trần Văn V 30.000.000 đồng (ba chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Châu Nhật N4 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2023).
Phạt bị cáo Châu Nhật N4 30.000.000 đồng (ba chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Phạm Hữu H3 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2023).
Phạt bị cáo Phạm Hữu H3 20.000.000 đồng (hai chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L1 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2023).
Phạt bị cáo Nguyễn Văn L1 20.000.000 đồng (hai chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Trần Tấn Q1 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2023).
Phạt bị cáo Trần Tấn Q1 20.000.000 đồng (hai chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Dương Hồng T9 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2023).
Phạt bị cáo Dương Hồng T9 20.000.000 đồng (hai chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc H7 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2023).
Phạt bị cáo Nguyễn Khắc H7 20.000.000 đồng (hai chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T10 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2023).
Phạt bị cáo Nguyễn Thanh T10 20.000.000 đồng (hai chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Lê Thiết K2 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2023).
Phạt bị cáo Lê Thiết K2 20.000.000 đồng (hai chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Giao các bị cáo cho địa phương giám sát, giáo dục theo luật thi hành án hình sự.
Căn cứ vào điểm b, d khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Hữu T1 03 (ba) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Cao Đức T 02 (hai) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Căn cứ vào điểm a, điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lục Minh T2 01 (một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 54; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lục Minh T2 02 (hai) năm tù về tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt tù của hai tội, buộc bị cáo Lục Minh T2 chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên biện pháp tư pháp; xử lí vật chứng; tiền án phí và thông báo quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Kháng cáo, kháng nghị:
- Ngày 10/11/2023, bị cáo Lục Minh T2 và Phạm Hữu T1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Ngày 13/11/2023, bị cáo Cao Đức T kháng cáo xin được hưởng án treo.
- Ngày 08/12/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận kháng nghị, đề nghị Tòa phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng: Áp dụng thêm điểm d khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự để xét xử đối với các bị cáo Phương Gia S, Lục Minh T2, Nguyễn Ngọc H, tăng mức hình phạt đối với bị cáo Phương Gia S; không áp dụng khoản 2 Điều 54 đối với các bị cáo Cao Hữu C, Châu Nhật N4, Ngô Văn P, Vũ Thế K1, Lê Lâm Thanh T5 và Trần Văn V và không cho hưởng án treo đối với các bị cáo Phương Gia S, Dương Hồng T9. Áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc H, Phạm Hữu H3, Nguyễn Văn L1, Trần Tấn Q1, Nguyễn Thanh T10 và Lê Thiết K2.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Bình Thuận phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Cao Đức T và Phạm Hữu T1.
+ Căn cứ điểm b, khoản 1 Điều 355 và khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: chấp nhận kháng nghị của VKSND tỉnh Bình Thuận: (1) Áp dụng điểm a, c, d khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51 đề nghị xử phạt bị cáo Phương Gia S từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. (2) Áp dụng điểm a, c, d khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 đối với bị cáo Lục Minh T2 xử phạt bị cáo 01 năm tù (như mức án sơ thẩm tuyên). Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 54 BLHS, xử phạt bị cáo Lục Minh T2 02 năm tù về tội “đánh bạc”; Tổng hợp hình phạt tù của cả 02 tội buộc bị cáo T2 chấp hành hình phạt chung là 03 năm tù. (3) Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; đề nghị xử phạt bị cáo Cao Hữu C 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm. (4) Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; đề nghị xử phạt bị cáo Ngô Văn P từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù. (5) Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Thế K1 từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù. (6) Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; đề nghị xử phạt bị cáo Lê Lâm Thanh T5 từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù. (7) Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; đề nghị xử phạt bị cáo Châu Nhật N4 từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù. (8) Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn V 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm. (9) Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 17; Điều 58 đề nghị xử phạt bị cáo Dương Hồng T9 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. (10) Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc H7 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 năm.
+ Áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội với vai trò không đáng kể quy định tại khoản 2 Điều 51 đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc H, Phạm Hữu H3, Nguyễn Văn L1, Trần Tấn Q1, Nguyễn Thanh T10, Lê Thiết K2 qua đó giữ nguyên hình phạt như bản án sơ thẩm tuyên.
Áp dụng điểm a, c, d khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 65 đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 năm.
+ Đối với hình phạt tiền là hình phạt bổ sung, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận thống nhất với cấp sơ thẩm.
- Bị cáo Lục Minh T2 xin rút kháng cáo. Bị cáo Phạm Hữu T1 giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và bị cáo Cao Đức T giữ nguyên kháng cáo xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận và kháng cáo của các bị cáo Lục Minh T2, Phạm Hữu T1 và Cao Đức T làm trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Lục Minh T2 xin rút kháng cáo. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm phần kháng cáo của bị cáo Lục Minh T2.
[2] Về hành vi của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo Phương Gia S, Nguyễn Ngọc H, Lục Minh T2, Phạm Hữu T1, Cao Hữu C, Ngô Văn P, Vũ Thế K1, Lê Lâm Thanh T5, Trần Văn V, Phạm Hữu H3, Nguyễn Văn L1, Cao Đức T, Trần Tấn Q1, Châu Nhật N4, Dương Hồng T9, Nguyễn Thanh T10, Nguyễn Khắc H7 và Lê Thiết K2 khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng từ ngày 10/02/2023 đến ngày 24/02/2023, Phương Gia S tổ chức cho những người đánh bạc đến chơi đổ mèo tại nhà khoảng từ 4 đến 5 ngày, có ngày chơi và ngày nghỉ. Để phục vụ cho việc đánh bạc, S nhờ Lục Minh T2 xếp xe máy của những người đến chơi bạc cho gọn gàng và nhờ Nguyễn Ngọc H mua đồ ăn thức uống và dọn dẹp rửa ly chén và cảnh giới. Phương Gia S thu tiền xâu 100.000 đồng cho mỗi ván đổ “Bão” và dùng tiền này phục vụ cho việc ăn uống của những người chơi bạc và trả tiền thù lao cho Lục Minh T2, Nguyễn Ngọc H từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng/ngày; S thu lợi cá nhân 200.000 đồng/ngày. Đến chiều ngày 24/02/2023, bị Công an phát hiện bắt quả tang các bị cáo đánh bạc với tổng số tiền là 58.065.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử về tội “Tổ chức đánh bạc” và tội “Đánh bạc” tại Điều 321 và Điều 322 Bộ luật hình sự, là có căn cứ.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo:
- Tại phiên toà, bị cáo Lục Minh T2 xin rút kháng cáo. Xét việc rút kháng cáo của bị cáo Lục Minh T2 là tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử phúc thẩm phần kháng cáo của bị cáo Lục Minh T2.
- Đối với kháng cáo của bị cáo Phạm Hữu T1 xin giảm nhẹ hình phạt và bị cáo Cao Đức T xin được hưởng án treo: Hội đồng xét xử nhận thấy, tại Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ như khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên do các bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo Cao Đức T đã bị xử lý hành chính về hành vi đánh bạc, hiện nay bị cáo đang bị khởi tố và đang tạm giam về hành vi đánh bạc; bị cáo Phạm Hữu T1 phạm tội thuộc trường hợp tái phạm. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Phạm Hữu T1 03 (ba) năm tù, bị cáo Cao Đức T 02 (hai) năm tù là phù hợp, không nặng.
(4) Xét kháng nghị của Viện kiểm sát: Đề nghị áp dụng thêm điểm d khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự để xét xử đối với bị cáo Phương Gia S, Lục Minh T2 và Nguyễn Ngọc H, tăng mức hình phạt đối với bị cáo Phương Gia S. Hội đồng xét xử xét thấy trong lúc tổ chức đánh bạc, bị cáo Phương Gia S đã thuê và phân công Lục Minh T2 sắp xếp xe của người đánh bạc, Nguyễn Ngọc H có nhiệm vụ mua thức ăn, nước uống và cảnh giới phục vụ cho người đánh bạc. Do đó, cần phải áp dụng thêm điểm d khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự như kháng nghị của Viện kiểm sát là phù hợp. Tuy nhiên trong thời gian tổ chức đánh bạc, bị cáo Phương Gia S thu lợi bất chính số tiền không lớn trong thời gian ngắn, bị cáo có nhân thân tốt, do đó Hội đồng xét xử không chấp kháng nghị đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Phương Gia S.
- Đối với nội dung kháng nghị không áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Cao Hữu C, Châu Nhật N4, Ngô Văn P, Vũ Thế K1, Lê Lâm Thanh T5 và Trần Văn V, tăng mức hình phạt đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo tham gia đánh bạc với vai trò là người đánh bạc chính và đều làm cái xoay vòng nên việc Toà án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 2 Điều 54 xác định là người có vai trò không đáng kể trong vụ án, do đó xử phạt các bị cáo mức án dưới khung hình phạt là không đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đối với nội dung kháng nghị không cho hưởng án treo đối với các bị cáo Phương Gia S và Dương Hồng T9, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo Phương Gia S có vai trò trong vụ án là người tổ chức, cầm đầu, S là người bố trí địa điểm đánh bạc tại nhà của mình, thuê người sắp xếp xe của người đến đánh bạc, thuê người cảnh giới, mua thức ăn, nước uống phục vụ người đánh bạc và thu tiền sâu tại chiếu bạc. Căn cứ Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP của TANDTC hướng dẫn về áp dụng án treo thì bị cáo Phương Gia S thuộc trường hợp không đủ điều kiện cho hưởng án treo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát đối với bị cáo Phương Gia S.
Đối với bị cáo Dương Hồng T9, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo tham gia đánh bạc với vai trò thứ yếu, chỉ tham gia đánh ké với số tiền đánh bạc từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và cho bị cáo được hưởng án treo như Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng là phù hợp.
- Đối với nội dung kháng nghị đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ, do các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội với vai trò không đáng kể quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc H, Phạm Hữu H3, Nguyễn Văn L1, Trần Tấn Q1, Nguyễn Thanh T10, Lê Thiết K2. Hội đồng xét xử xét thấy kháng nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở nên chấp nhận.
[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí: Các bị cáo Phạm Hữu T1 và Cao Đức T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Lục Minh T2.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Hữu T1 và Cao Đức T;
Căn cứ điểm a, d khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận. Sửa một phần bản án sơ thẩm số 135/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
Tuyên bố:
Các bị cáo Phương Gia S, Lục Minh T2 và Nguyễn Ngọc H phạm tội “Tổ chức đánh bạc”;
Các bị cáo Lục Minh T2, Phạm Hữu T1, Cao Hữu C, Ngô Văn P, Vũ Thế K1, Lê Lâm Thanh T5, Trần Văn V, Phạm Hữu H3, Nguyễn Văn L1, Cao Đức T, Trần Tấn Q1, Châu Nhật N4, Dương Hồng T9, Nguyễn Thanh T10, Nguyễn Khắc H7 và Lê Thiết K2 phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ vào điểm a, c, d khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phương Gia S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Phạt bị cáo Phương Gia S 40.000.000 đồng (bốn chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Căn cứ điểm a, c, d khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 02 (hai) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2023).
Phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H 20.000.000 đồng (hai chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Căn cứ vào điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Cao Hữu C 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2023).
Phạt bị cáo Cao Hữu C 30.000.000 đồng (ba chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Ngô Văn P 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2023).
Phạt bị cáo Ngô Văn P 30.000.000 đồng (ba chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Vũ Thế K1 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2023).
Phạt bị cáo Vũ Thế K1 30.000.000 đồng (ba chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Lê Lâm Thanh T5 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2023).
Phạt bị cáo Lê Lâm Thanh T5 30.000.000 đồng (ba chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Trần Văn V 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2023).
Phạt bị cáo Trần Văn V 30.000.000 đồng (ba chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Châu Nhật N4 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2023).
Phạt bị cáo Châu Nhật N4 30.000.000 đồng (ba chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Phạm Hữu H3 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2023).
Phạt bị cáo Phạm Hữu H3 20.000.000 đồng (hai chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L1 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2023).
Phạt bị cáo Nguyễn Văn L1 20.000.000 đồng (hai chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Trần Tấn Q1 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2023).
Phạt bị cáo Trần Tấn Q1 20.000.000 đồng (hai chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Dương Hồng T9 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2023).
Phạt bị cáo Dương Hồng T9 20.000.000 đồng (hai chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc H7 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2023).
Phạt bị cáo Nguyễn Khắc H7 20.000.000 đồng (hai chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T10 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2023).
Phạt bị cáo Nguyễn Thanh T10 20.000.000 đồng (hai chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Lê Thiết K2 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/11/2023).
Phạt bị cáo Lê Thiết K2 20.000.000 đồng (hai chục triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Giao các bị cáo Nguyễn Ngọc H, Nguyễn Văn L1, Cao Hữu C, Ngô Văn P, Vũ Thế K1, Lê Lâm Thanh T5, Trần Văn V, Phạm Hữu H3, Trần Tấn Q1, Châu Nhật N4, Dương Hồng T9, Nguyễn Thanh T10, Nguyễn Khắc H7 và Lê Thiết K2 cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ vào điểm b, d khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Hữu T1 03 (ba) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Cao Đức T 02 (hai) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Căn cứ vào điểm a, c, d khoản 1 Điều 322; điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 54; khoản 1 Điều 55; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lục Minh T2 01 (một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và 02 (hai) năm tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành là 03 (ba) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Các bị cáo Phạm Hữu T1 và bị cáo Cao Đức T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật tính kể từ ngày tuyên án (ngày 18 tháng 9 năm 2024).
Bản án về tội tổ chức đánh bạc số 92/2024/HS-PT
| Số hiệu: | 92/2024/HS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Bình Thuận |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 18/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về