Bản án về tội tổ chức đánh bạc số 38/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TRÀ VINH

BẢN ÁN 38/2023/HS-ST NGÀY 18/07/2023 VỀ TỘI TỔ CHỨC ĐÁNH BẠC

Ngày 18 tháng 7 năm 2023, tại hai điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C và điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh, Tòa án nhân dân huyện C mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 36/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 234/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn Tr, sinh năm: 1972, tại tỉnh Trà Vinh; nơi cư trú: Khóm a, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 (Đã chết) và bà Huỳnh Thị A (Đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Ngọc K, sinh năm 1976 và có 02 người con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2004; tiền án: 01 (Ngày 23-6-2020, bị Tòa án nhân dân huyện C xử phạt 03 năm tù về tội Tổ chức đánh bạc theo Bản án số 22/2020/HS-ST, chấp hành xong ngày 27-01-2022, chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 09-3-2023 cho đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2. Trần Hoài Th, sinh ngày: 05-5-1978, tại tỉnh Trà Vinh; nơi thường trú: Ấp Đ, xã KBT, huyện T, tỉnh Cà Mau; chỗ ở hiện nay: khóm e, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính:

Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N (Đã chết) và bà Nguyễn Thị U (Đã chết); có vợ là Đỗ Thị P1, sinh năm 1978 và có 02 người con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2002; tiền án: Không; tiền sự: 01 (Ngày 19-01- 2022 có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đá gà tại ấp Ô, xã LH, huyện Ch, tỉnh Trà Vinh, nên ngày 22-02-2022 bị Công an huyện Ch ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng, đã chấp hành đóng phạt ngày 23- 02-2022); bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 09-3-2023 cho đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1- Ông Nguyễn Thanh Ph1, sinh năm: 1979 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);

Nơi thường trú: Ấp AB, xã TB, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Chỗ ở hiện nay: Ấp AC, xã TB, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

2- Anh Nguyễn Hoàng Ph2, sinh năm: 1990 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);

Nơi cư trú: Ấp AB, xã TB, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

3- Ông Đồng Văn P, sinh năm: 1984 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);

4- Ông Nguyễn Trường G, sinh năm: 1980 (Vắng mặt);

Cùng nơi cư trú: Ấp f, xã AT, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

5- Bà Trần Phi Y, sinh năm: 1990 (Vắng mặt);

Nơi thường trú: Ấp h, xã AT, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Chỗ ở hiện nay: Ấp f, xã AT, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

6- Ông Nguyễn Kim T, sinh năm: 1977 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);

Nơi cư trú: Khóm a, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

7- Anh Trần Q, sinh năm: 1990 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);

Nơi cư trú: Ấp số k, xã MC, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

8- Anh Đinh Thanh Ph3, sinh năm: 2001 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);

Nơi cư trú: Ấp BT, xã TH, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

9- Anh Nguyễn Tấn Đ, sinh năm: 1996 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp m, xã AT, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Người làm chứng: Ông Trần Văn TE, sinh năm: 1988; Nơi cư trú: Ấp TT, xã TH, huyện V, tỉnh Vĩnh Long (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ ngày 28-12-2022, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc có một số đối tượng tụ tập đánh bạc tại phần đất của ông Nguyễn Trường G ở ấp f, xã AT, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Công an huyện C kết hợp cùng Công an xã AT tiến hành kiểm tra địa điểm này phát hiện có nhiều đối tượng đang tụ tập đánh bạc trái phép dưới hình thức đá gà được thua bằng tiền, trong đó có bị cáo Trần Hoài Th, anh Trần Q, anh Đinh Thanh Ph3 và nhiều đối tượng khác đã bỏ chạy.

- Tại hiện trường, Công an huyện C thu giữ: 01 con gà trống lông màu trắng - đen, trọng lượng 2,6 kilogam; 01 con gà trống lông màu trắng - đen, trọng lượng 2,3 kilogam; 01 con gà trống lông màu vàng - đen, trọng lượng 2,6 kilogam; 01 con gà trống lông màu đỏ - đen, trọng lượng 2,35 kilogam; 01 con gà trống lông màu trắng - đen, trọng lượng 2,7 kilogam; 04 cuộn băng keo đã qua sử dụng; 05 cái giỏ đệm; 01 mảnh nhựa trong suốt, kích thước 51,5 cm x 51,5 cm.

- Quá trình điều tra, Công an huyện đã thu giữ:

+ Tạm giữ của anh Trần Q: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màn hình cảm ứng, màu đen, số IMEI 1: 3534580608618/01, số IMEI 2:

353416080608616/01; tiền Việt Nam đồng: 2.400.000 đồng;

+ Tạm giữ của bị cáo Trần Hoài Th: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại bàn phím, màu trắng đen đã qua sử dụng; tiền Việt Nam đồng: 300.000 đồng;

+ Tạm giữ của anh Đinh Thanh Ph3: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màn hình cảm ứng, màu đen, số IMEI 1: 352862111984081, số IMEI 2: 352862111976848; tiền Việt Nam đồng: 33.900.000 đồng;

+ Tạm giữ của ông Đồng Văn P: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màn hình cảm ứng, số IMEI 1: 865222048524957, số IMEI 2: 865222048524940; 01 cái cân đồng hồ hiệu Nh, màu xanh, loại 05 kg đã qua sử dụng; 08 cựa bằng kim loại; tiền Việt Nam đồng: 700.000 đồng;

+ Tạm giữ của ông Nguyễn Kim T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại bàn phím, màu trắng, số seri 1: 3518588354651351, số seri 2: 351858836465134, có gắn sim số 0945501819.

- Công an huyện C đã xử lý đồ vật, tài liệu và vật chứng là:

+ Đối với 05 con gà trống nêu trên: Công an huyện đã tiêu hủy.

+ Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính của anh Trần Q là 1.300.000 đồng, của anh Đinh Thanh Ph3 là 900.000 đồng, của ông Đồng Văn P là 700.000 đồng.

+ Trả lại cho anh Trần Q 1.100.000 đồng.

+ Trả lại cho anh Đinh Thanh Ph3: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màn hình cảm ứng, màu đen, số IMEI 1: 352862111984081, số IMEI 2: 352862111976848 và số tiền 33.000.000 đồng.

- Các vật chứng còn lại, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C hiện đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện C quản lý.

Đối với điện thoại của ông Nguyễn Thanh Ph1 dùng để liên lạc với ông Đồng Văn P để tìm chạn gà, quá trình tham gia đánh bạc ông Ph1 bị phát hiện đã bỏ chạy và làm rơi mất điện thoại, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã tiến hành truy tìm nhưng không tìm được.

Đối với điện thoại của bị cáo Nguyễn Văn Tr dùng để liên lạc với ông Đồng Văn P và các đối tượng tham gia đánh bạc, trong quá trình sử dụng đã làm mất, không biết mất ở đâu, thời gian nào, không còn liên lạc được.

Tại Cơ quan điều tra các bị cáo khai nhận: Vào sáng ngày 28-12-2022, do muốn đá gà thắng thua bằng tiền, nên ông Nguyễn Thanh Ph1 sử dụng số thuê bao 0939791736 gọi vào số thuê bao 0345799609 của ông Đồng Văn P với nội dung tìm 03 chạn gà 2,3kg, 2,6kg và 2,7kg đá thắng thua bằng tiền thì ông P đồng ý. Ông P gọi vào số thuê bao 0907373430 của bị cáo Nguyễn Văn Tr với nội dung nhờ bị cáo Tr tìm 03 chạn gà này để ông P tổ chức đá gà thắng thua bằng tiền nhằm thu tiền biện, thì bị cáo Tr đồng ý và hẹn khi nào có chạn gà sẽ gọi lại cho ông P hay.

Bị cáo Tr gọi vào số thuê bao 0945501819 của ông Nguyễn Kim T với nội dung tìm chạn gà nhưng ông T trả lời không có. Sau đó, anh Trần Q sử dụng số thuê bao 0974872918 gọi cho ông T với nội dung tìm chạn gà 2,6kg đá thắng thu bằng tiền thì ông T nói bị cáo Tr đang tìm chạn gà này. Ông T gọi lại cho bị cáo Tr với nội dung anh Trần Q có chạn gà 2,6kg thì được bị cáo Tr hướng dẫn cho ông T đường vào sân gà do ông P tổ chức tại ấp f, xã AT, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Sau đó, ông T điện thoại hướng dẫn cho anh Trần Q biết đường vào sân gà. Sau khi được ông T chỉ đường vào sân gà, anh Trần Q về nhà bắt gà và rủ bị cáo Trần Hoài Th cùng đi đá gà thắng thua bằng tiền thì bị cáo Th đồng ý.

Sau khi gọi cho ông T xong, bị cáo Tr tiếp tục gọi cho anh Nguyễn Thành Q1, sinh năm 1993, nơi cư trú ấp AN, xã TT, huyện V, tỉnh Vĩnh Long với nội dung tìm chạn gà 2,3kg và 2,7kg để ông P tổ chức đá thắng thua bằng tiền thì anh Q1 đồng ý nên bị cáo Tr chỉ đường cho anh Q1 đến sân gà của ông P tổ chức tại ấp f, xã AT, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Sau khi tìm được 03 chạn gà, bị cáo Tr gọi thông báo cho ông Đồng Văn P biết, ông P gọi lại cho ông Nguyễn Thanh Ph1 với nội dung đã tìm được chạn gà và hẹn đến sân gà là phần đất trống của ông Nguyễn Trường G, tọa lạc tại ấp f, xã AT, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Khi đi, ông Ph1 rủ theo anh Nguyễn Hoàng Ph2.

Tại đây, đã diễn ra 02 trận đá gà. Cụ thể:

Trận gà thứ nhất:

Ông Đồng Văn P và anh Nguyễn Tấn Đ làm biện tổ chức cho gà của anh Trần Q là gà trống lông màu trắng - đen, trọng lượng 2,7kg do anh Trần Q ôm gà cho bị cáo Trần Hoài Th trồng cựa và thả gà đá với gà của anh Nguyễn Hoàng Ph2 (gà của anh Ph2 mượn của ông Nguyễn Thanh Ph1) là gà trống lông màu trắng – đen, trọng lượng 2,7kg do anh Ph2 tự ôm gà trồng cựa và thả gà. Cáp đá 04 cựa sắt, tỷ lệ thắng thua 1:1, số tiền cá cược là đá xổ 600.000 đồng bao gồm cả xác gà, nếu bên thua muốn chuộc lại xác gà thì đưa thêm 200.000 đồng. Sau khi thống nhất số tiền cá cược, ông P đứng ra làm trọng tài, đếm 1 2 3 để hai bên tiến hành thả gà. Kết quả gà của anh Trần Q thắng, do anh Ph2 chuộc lại xác gà nên đưa cho anh Đ số tiền thua cược là 800.000 đồng (gồm tiền đá xổ 600.000 đồng và tiền xác gà 200.000 đồng). Anh Đ đưa lại cho ông P số tiền 800.000 đồng. Ông P giữ lại 100.000 đồng tiền biện và đưa lại cho bị cáo Th số tiền thắng cược có được là 700.000 đồng để bị cáo Th đưa lại cho anh Trần Q. Tổng số tiền dùng để đánh bạc trong trận gà thứ nhất là 1.400.000 đồng, bao gồm cả xác gà.

Trận gà thứ hai:

Ông P và anh Đ làm biện tổ chức cho gà của ông Nguyễn Thanh Ph1 là gà trống lông màu đỏ - đen, trọng lượng 2,35kg do ông Ph1 tự ôm gà, trồng cựa và thả gà đá với gà của anh Nguyễn Thành Q1 là gà trống lông màu trắng – đen, trọng lượng 2,3kg (không xác định được ai ôm gà, trồng cựa và thả gà). Cáp đá 04 cựa sắt, tỷ lệ thắng thua 1:1, số tiền cá cược là đá xổ 600.000 đồng bao gồm cả xác gà, nếu bên thua muốn chuộc lại xác gà thì đưa thêm 200.000 đồng. Tham gia hàng sáo bên ngoài có anh Đinh Thanh Ph3 theo gà của anh Q1 cá cược với người khác (không rõ họ tên, địa chỉ) với số tiền 500.000 đồng cáp đá ăn tám, gà của anh Q1 kèo trên. Sau khi thống nhất số tiền cá cược, ông P đứng ra làm trọng tài, đếm 1 2 3 để hai bên tiến hành thả gà. Kết quả gà của anh Q1 thắng, anh Đinh Thanh Ph3 thắng được 400.000 đồng và đã nhận tiền, ông Nguyễn Thanh Ph1 đưa cho ông P số tiền đá xổ 600.000 đồng, do không chuộc lại xác gà, ông P chưa đưa tiền thắng cược cho anh Q1 thì bị lực lượng Công an huyện C đến kiểm tra, lập biên bản. Tổng số tiền dùng để đánh bạc trong trận gà thứ hai là 1.200.000 đồng, bao gồm cả xác gà.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình.

Qua xác minh xác định anh Trần Q, anh Nguyễn Hoàng Ph2, ông Nguyễn Kim T, ông Đồng Văn P, anh Đinh Thanh Ph3, anh Nguyễn Thành Q1 chưa có tiền án, tiền sự về hành vi tổ chức đánh bạc, gá bạc hay đánh bạc trái phép.

Đối với anh Nguyễn Tấn Đ, ông Nguyễn Thanh Ph1có tiền sự về hành vi đánh bạc trái phép nhưng đã hết thời gian được coi là đã bị xử phạt vi phạm hành chính. Đối với bị cáo Nguyễn Văn Tr có 01 tiền án và bị cáo Trần Hoài Th có 01 tiền sự như đã nêu.

- Đối với ông Đồng Văn P: Trong ngày 28-12-2022, do muốn thu lợi bất chính từ việc tổ chức đá gà thắng thua bằng tiền, mà ông P đã tổ chức 02 trận đá gà để thu tiền xâu mỗi trận là 100.000 đồng, chưa có tiền án tiền sự, hành vi của ông P không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đề nghị Ủy ban nhân dân huyện C xử phạt vi phạm hành chính đối với ông P về hành vi Tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép với số tiền 15.000.000 đồng, tịch thu 500.000 đồng, buộc khắc phục hậu quả 200.000 đồng.

- Đối với anh Nguyễn Tấn Đ: Có hành vi giúp sức cho ông Đồng Văn P tổ chức 02 trận đá gà thắng thua bằng tiền. Cụ thể anh Đ là người dọn dẹp sân gà, dẫn đường cho các đối tượng vào sân gà, phát băng keo, cựa gà cho chủ gà và thu tiền cá cược từ các đối tượng tham gia để giao lại cho ông P. Anh Đ có 01 tiền sự về hành vi Đánh bạc trái phép nhưng đã hết thời hạn được coi là đã bị xử phạt vi phạm hành chính. Hành vi của anh Đ không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không truy cứu trách nhiệm hình sự và đã đề nghị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép với số tiền 15.000.000 đồng, chưa chấp hành quyết định xử phạt.

- Đối với ông Nguyễn Kim T: Sáng ngày 28-12-2022, ông T có nhận được cuộc gọi từ bị cáo Nguyễn Văn Tr với nội dung tìm chạn gà để ông Đồng Văn P tổ chức đá gà thắng thua bằng tiền. Sau đó, ông T nhận được cuộc gọi từ anh Trần Q với nội dung tìm chạn gà đá thắng thu bằng tiền thì ông T có hành vi giúp sức cho anh Q trong việc đánh bạc trái phép, cụ thể là giới thiệu chạn gà, chỉ đường cho anh Q đi đến sân gà. Do ông T chưa có tiền án, tiền sự, nên hành vi của ông T không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không truy cứu trách nhiệm hình sự và đã đề nghị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Giúp sức việc Đánh bạc trái phép với số tiền 3.500.000 đồng, chưa chấp hành quyết định xử phạt.

- Đối với anh Trần Q: Ngày 28-12-2022 có tham gia đánh bạc trái phép dưới hình thức đá gà được thua bằng tiền với anh Nguyễn Hoàng Ph2 ở trận gà thứ nhất, số tiền dùng để đánh bạc là 1.400.000 đồng, chưa có tiền án, tiền sự. Hành vi của anh Trần Q không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không truy cứu trách nhiệm hình sự và đã đề nghị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc trái phép với số tiền 1.500.000 đồng, tịch thu số tiền đánh bạc 1.300.000 đồng, đã chấp hành xong quyết định xử phạt ngày 09-6-2023.

- Đối với anh Nguyễn Hoàng Ph2: Ngày 28-12-2022 có tham gia đánh bạc trái phép dưới hình thức đá gà được thua bằng tiền với anh Trần Q ở trận gà thứ nhất, số tiền dùng để đánh bạc là 1.400.000 đồng, chưa có tiền án, tiền sự. Hành vi của anh Ph2 không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không truy cứu trách nhiệm hình sự và đã đề nghị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc trái phép với số tiền 1.500.000 đồng, đã chấp hành xong quyết định xử phạt ngày 08-6-2023.

- Đối với ông Nguyễn Thanh Ph1: Ngày 28-12-2022 có tham gia đánh bạc trái phép dưới hình thức đá gà được thua bằng tiền với anh Nguyễn Thành Q1 ở trận gà thứ hai, số tiền dùng để đánh bạc là 1.200.000 đồng. Đồng thời, ông Ph1 có hành vi giúp sức cho anh Nguyễn Hoàng Ph2 tham gia đánh bạc trái phép ở trận gà thứ nhất, cụ thể là cho anh Ph2 mượn con gà trống lông màu trắng – đen, trọng lượng 2,7kg để đá thắng thua với anh Trần Q, số tiền dùng để đánh bạc là 1.400.000 đồng. Ông Nguyễn Thanh Ph1 có 01 tiền sự về hành vi Đánh bạc trái phép nhưng đã hết thời gian được coi là đã bị xử phạt vi phạm hành chính. Hành vi của ông Ph1 không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không truy cứu trách nhiệm hình sự và đã đề nghị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc trái phép và Giúp sức việc đánh bạc trái phép với tổng số tiền 5.000.000 đồng, chưa chấp hành quyết định xử phạt.

- Đối với anh Đinh Thanh Ph3: Ngày 28-12-2022 có tham gia đánh bạc trái phép dưới hình thức đá gà được thua bằng tiền với người lạ mặt không quen biết, tham gia đá hàng sáo ở trận gà thứ hai, theo gà của anh Nguyễn Thành Q1 với số tiền dùng để đánh bạc là 500.000 đồng, cáp đá ăn tám. Kết quả gà của anh Q1, anh Ph2 đã nhận được số tiền thắng cược có được là 400.000 đồng. Anh Ph2 chưa có tiền án tiền sự. Hành vi của anh Ph2 không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không truy cứu trách nhiệm hình sự và đã đề nghị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc trái phép với số tiền 1.500.000 đồng, tịch thu số tiền tham gia đánh bạc 900.000 đồng, đã chấp hành xong quyết định xử phạt ngày 06-6-2023.

- Đối với anh Nguyễn Thành Q1: Theo lời trình bày của anh Đinh Thanh Ph3 và ông Trần Văn TE là anh Q1 có tham gia đánh bạc trái phép vào ngày 28-12- 2022 dưới hình thức đá gà được thua bằng tiền với gà của ông Nguyễn Thanh Ph1 ở trận gà thứ hai, số tiền dùng để đánh bạc là 1.200.000 đồng. Hiện tại, do anh Nguyễn Thành Q1 đã bỏ đi khỏi địa phương, không biết đi đâu, làm gì, nên không tiến hành làm việc được, không xác định được có tham gia đánh bạc hay không và nhóm người đi chung với anh Q1 là ai. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định truy tìm, khi nào làm việc được, có căn cứ sẽ xử lý sau.

- Đối với ông Trần Văn TE: Ngày 28-12-2022 có cùng với anh Nguyễn Thành Q1 đi đến sân gà tại ấp f, xã AT, huyện C, tỉnh Trà Vinh, nhưng không thừa nhận có tham gia đánh bạc, không có tài liệu khác thể hiện ông TE có tham gia đánh bạc hay giúp sức cho việc đánh bạc, nên hành vi của ông TE không cấu thành tội phạm.

- Đối với ông Huỳnh Phước V: Ông Trần Văn TE trình bày vào ngày 28-12- 2022 ông V có cùng với anh Nguyễn Thành Q1, ông TE và một người tên Th đi đến sân gà tại ấp f, xã AT, huyện C, tỉnh Trà Vinh, nhưng qua làm việc ông V không thừa nhận có đến sân gà như ông TE trình bày. Sau đó, do ông TE đi khỏi địa phương, không rõ nơi đến, nên không tiến hành mời đối chất được. Do chỉ có duy nhất lời khai của ông TE, nên không đủ cơ sở để xử lý đối với ông V.

- Đối với người đàn ông tên Th: Ông Trần Văn TE trình bày người tên Thạnh có cùng với anh Nguyễn Thành Q1, ông TE và ông Huỳnh Phước V đi đến sân gà tại ấp f, xã AT, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Do ông TE trình bày không rõ họ tên, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng nên không xác định được đối tượng này và không tiến hành làm việc được. Khi nào làm việc được, có căn cứ sẽ xử lý sau.

- Đối với ông Nguyễn Trường G và bà Trần Phi Y: Ngày 28-12-2022 đi công việc, không có mặt ở nhà, việc các đối tượng tổ chức và tham gia đánh bạc tại phần đất của gia đình ông bà thì ông bà hoàn toàn không biết, không thu lợi ích từ các đối tượng đánh bạc và tổ chức đánh bạc. Nên hành vi của ông bà không cấu thành tội phạm.

Tại Bản cáo trạng số 35/CT-VKS-HS ngày 22-6-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Tr về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm đ khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Trần Hoài Th về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Văn Tr, Trần Hoài Th có mặt giữ nguyên lời khai có trong hồ sơ vụ án, khai nhận hành vi phạm tội đúng như đã nêu trong Bản cáo trạng. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt nên không có lời trình bày tại phiên tòa. Trong các đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng xác định vẫn giữ nguyên lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Tr phạm tội “Tổ chức đánh bạc”, truy tố bị cáo Trần Hoài Th phạm tội “Đánh bạc”. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo. Về tình tiết tăng nặng: Là không có. Về tình tiết giảm nhẹ: Đối với bị cáo Tr quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, có thân nhân tham gia cách mạng, vợ bị cáo bị bệnh, bị cáo là lao động chính trong gia đình; Đối với bị cáo Th quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Ngoài ra, cả hai bị cáo đều có nhân thân xấu do nhiều lần vi phạm pháp luật. Do đó, Vị Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ:

- điểm đ khoản 1 và khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51;

các Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tr từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc, thời hạn phạt tù được tính từ ngày 09- 3-2023; Phạt bổ sung bị cáo phải nộp số tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

- khoản 1 và khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Hoài Th từ 09 tháng đến 12 tháng tù, thời hạn phạt tù được tính từ ngày 09-3-2023; Phạt bổ sung bị cáo phải nộp số tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

Đối với vật chứng, Vị đề nghị xử lý là:

+ Tịch thu và tiêu hủy: 04 (bốn) cuộn băng keo đã qua sử dụng; 05 (năm) cái giỏ đệm; 01 (một) mảnh nhựa trong suốt, kích thước 51,5 cm x 51,5 cm; 08 (tám) cựa bằng kim loại; sim số 0945501819 (thu giữ của ông Nguyễn Kim T). Do là tang vật dùng vào việc phạm tội.

+ Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màn hình cảm ứng, màu đen, số IMEI 1: 3534580608618/01, số IMEI 2: 353416080608616/01 thu giữ của ông Trần Q; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màn hình cảm ứng, số IMEI 1: 865222048524957, số IMEI 2: 865222048524940 và 01 cái cân đồng hồ hiệu Nh, màu xanh, loại 05kg đã qua sử dụng thu giữ của ông Đồng Văn P; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại bàn phím, màu trắng, số seri 1: 3518588354651351, số seri 2: 351858836465134 thu giữ của ông Nguyễn Kim T. Do liên quan đến hành vi phạm tội.

+ Trả lại cho bị cáo Trần Hoài Th 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại bàn phím, màu trắng đen đã qua sử dụng và tiền Việt Nam đồng 300.000 đồng. Do không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng cần tiếp tục quản lý để đảm bảo cho việc thi hành án.

Ngoài ra, Vị đề nghị buộc hai bị cáo Tr, Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Qua quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo tại phiên tòa đã tranh luận đối đáp với nhau, sau cùng mỗi người vẫn giữ nguyên quan điểm, ý kiến đã trình bày.

Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án là: Các bị cáo đã rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo được sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa hôm nay, Vị đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng không bổ sung tài liệu, đồ vật và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng. Xác định tư cách người tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định và giới hạn xét xử của Tòa án theo Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh Ph1, anh Nguyễn Hoàng Ph2, ông Đồng Văn P, ông Nguyễn Kim T, anh Trần Q, anh Đinh Thanh Ph3 và người làm chứng ông Trần Văn TE có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trường G, bà Trần Phi Y, anh Nguyễn Tấn Đ đã được triệu tập hợp lệ tham dự phiên tòa, nhưng vắng mặt không lý do, riêng anh Đ được Công an địa phương cư trú cung cấp thông tin là hiện nay đã bỏ đi khỏi địa phương. Do các đương sự này đã có lời khai rõ ràng tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C có trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt họ không gây cản trở cho việc xét xử, nên căn cứ quy định tại các Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự này.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội là: Vào sáng ngày 28-12-2022, bị cáo Nguyễn Văn Tr đã có hành vi điện thoại tìm chạn gà, chỉ đường cho các đối tượng vào sân gà tại ấp f, xã AT, huyện C, tỉnh Trà Vinh để giúp ông Đồng Văn P tổ chức 02 trận đá gà thắng thua bằng tiền cho các đối tượng tham gia các cược gồm: Nguyễn Thanh Ph1, Nguyễn Hoàng Ph2, Trần Q, Nguyễn Thành Q1, Đinh Thanh Ph3. Trong đó, có bị cáo Trần Hoài Th có hành vi trồng cựa, thả gà giúp sức cho gà của anh Trần Q đá với gà của anh Nguyễn Hoàng Ph2 ở trận gà thứ nhất. Tổng số tiền dùng để đánh bạc ở trận gà thứ nhất là 1.400.000 đồng bao gồm cả xác gà, tổng số tiền dùng để đánh bạc ở trận gà thứ hai là 1.200.000 đồng bao gồm cả xác gà. Mặc dù số tiền dùng để đánh bạc không đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng bị cáo Tr có một tiền án về tội Tổ chức đánh bạc, chưa được xóa án tích; bị cáo Th có 01 tiền sự về hành vi Đánh bạc trái phép, chưa hết thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính lại tiếp tục phạm tội, nên hành vi của hai bị cáo đã cấu thành tội phạm (mang tính đồng phạm giản đơn). Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C thu thập được có trong hồ sơ vụ án và vật chứng đã thu giữ.

[2] Xét thấy Bản cáo trạng số 35/CT-VKS-HS ngày 22-6-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn Tr về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm đ khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Trần Hoài Th về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là phù hợp quy định pháp luật, không oan, không sai.

[3] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến hoạt động sinh sống bình thường và gây bức xúc trong Nhân dân, tạo ra dư luận, sự hoài nghi của Nhân dân đối với chính quyền các cấp và cơ quan bảo vệ pháp luật về lĩnh vực an ninh trật tự tại địa phương. Việc tổ chức đánh bạc và đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền hình thức đá gà là trái pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm, đã được quy định rõ trong Bộ luật Hình sự. Đây là một tệ nạn xã hội, là nguyên nhân của sự đói nghèo, cũng là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác. Từ việc tham gia đánh bạc mà nhiều con bạc đã lâm vào cảnh nợ nần, kinh tế khó khăn, gia đình phát sinh mâu thuẫn dẫn đến tan vỡ hạnh phúc.

[4] Các bị cáo Nguyễn Văn Tr, Trần Hoài Th đều là những người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đều nhận thức được hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc là vi phạm pháp luật; Có đủ sức khỏe để lao động chân chính, nhưng đã không chí thú làm ăn, muốn thu lợi bất chính mà không phải bỏ công sức lao động vẫn có được lợi nhuận nhanh, nên các bị cáo đã tìm cách che giấu hành vi phạm tội, cố ý thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc trái phép.

[5] Mặt khác, bị cáo Tr có một tiền án về tội Tổ chức đánh bạc chưa được xóa án tích, bị cáo Th có 01 tiền sự về hành vi Đánh bạc trái phép chưa hết thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, nhưng hai bị cáo lại tiếp tục phạm tội. Ngoài ra, các bị cáo còn có nhân thân xấu, đó là: Đối với bị cáo Tr ngày 29-5-2017 bị Ủy ban nhân dân huyện C xử phạt vi phạm hành chính số tiền 10.000.000 đồng về hành vi Rủ rê, lôi kéo người khác tụ tập để đánh bạc trái phép (Đá gà); Ngày 10-7-2017 bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc. Đối với bị cáo Th ngày 25-5-2015 bị Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 5.000.000 đồng về tội Đánh bạc; Ngày 02-02-2019 bị Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi Xâm hại đến sức khỏe của người khác; Ngày 16-4-2019 bị Công an huyện Ch, tỉnh Trà Vinh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc. Đáng lẽ ra sau những lần vi phạm pháp luật, các bị cáo phải biết tự sửa chữa bản thân, trở thành công dân tốt cho xã hội, giúp ích cho gia đình, nhưng các bị cáo không làm được, mà còn tiếp tục phạm tội. Hành vi của các bị cáo thể hiện thái độ rất xem thường pháp luật. Để góp phần ổn định trật tự trị an tại địa phương và đấu tranh ngăn ngừa tội phạm, ngăn chặn những hành vi tương tự có thể xảy ra. Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi của các bị cáo và tính chất của vụ án, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, đồng thời cần áp dụng phạt bổ sung hình thức phạt tiền đối với các bị cáo mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[6] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với mỗi bị cáo, Hội đồng xét xử đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ đó là: Quá trình điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Riêng bị cáo Tr có nhiều người thân có công cách mạng (gồm: bà nội vợ tên Nguyễn Thị N được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng; cha vợ tên Nguyễn Thanh L và chú vợ tên Nguyễn Văn B cùng là thương binh hạng 4/4; bác vợ tên Nguyễn Văn T4, chú vợ tên Nguyễn Văn BN và chú vợ tên Nguyễn Hồng H cùng là Liệt sĩ); vợ của bị cáo đang bị bệnh và bị cáo là lao động chính trong gia đình. Đây là những căn cứ để áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Tr, áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Th.

[7] Về vật chứng của vụ án:

Đối với: 04 (bốn) cuộn băng keo đã qua sử dụng; 05 (năm) cái giỏ đệm; 01 (một) mảnh nhựa trong suốt, kích thước 51,5 cm x 51,5 cm; 08 (tám) cựa bằng kim loại và sim số 0945501819 thu giữ của ông Nguyễn Kim T. Đây là những tang vật dùng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màn hình cảm ứng, màu đen, số IMEI 1: 3534580608618/01, số IMEI 2: 353416080608616/01 thu giữ của anh Trần Q. Do liên quan hành vi phạm tội, nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước.

Đối với: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màn hình cảm ứng, số IMEI 1: 865222048524957, số IMEI 2: 865222048524940 và 01 (một) cái cân đồng hồ hiệu Nh, màu xanh, loại 05kg đã qua sử dụng thu giữ của ông Đồng Văn P. Do liên quan hành vi phạm tội, nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước.

Đối với: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại bàn phím, màu trắng, số seri 1: 3518588354651351, số seri 2: 351858836465134 thu giữ của ông Nguyễn Kim T. Do liên quan hành vi phạm tội, nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước.

Đối với: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại bàn phím, màu trắng đen đã qua sử dụng và tiền Việt Nam đồng 300.000 đồng thu giữ của bị cáo Trần Hoài Th. Do không liên quan hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo, nhưng cần tiếp tục quản lý để đảm bảo cho việc thi hành án.

[8] Đối với hành vi của ông Đồng Văn P, anh Nguyễn Tấn Đ, ông Nguyễn Kim T, anh Trần Q, anh Nguyễn Hoàng Ph2, ông Nguyễn Thanh Ph1, anh Đinh Thanh Ph3, không đủ cơ sở xử lý trách hiệm hình sự và đã bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định pháp luật. Đối với ông Nguyễn Trường G, bà Trần Phi Y không có mặt tại hiện trường, không biết sự việc phạm tội, không thu lợi ích vật chất gì, nên không vi phạm pháp luật. Đối với hành vi của anh Nguyễn Thành Q1, ông Trần Văn TE, ông Huỳnh Phước V, người đàn ông tên Th, do không đủ cơ sở xác định hành vi phạm tội, nên khi nào làm việc được và có căn cứ thì Cơ quan điều tra sẽ xử lý sau.

[9] Về án phí sơ thẩm: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn Tr, Trần Hoài Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra - truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[11] Từ những nhận định trên, quan điểm đề nghị của Vị Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tại phiên tòa là có căn cứ theo quy định của pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Tr phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; Bị cáo Trần Hoài Th phạm tội “Đánh bạc”.

- Căn cứ vào các Điều 45, 260, 268, 269, 299 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Căn cứ vào điểm đ khoản 1 và khoản 3 Điều 322, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 58, 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tr 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 09-3-2023.

Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn Tr số tiền là 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

- Căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, 58, 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Trần Hoài Th 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 09-3-2023.

Phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Hoài Th số tiền là 10.000.000đ (Mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu và tiêu hủy:

+ 04 (bốn) cuộn băng keo đã qua sử dụng;

+ 05 (năm) cái giỏ đệm;

+ 01 (một) mảnh nhựa trong suốt, kích thước 51,5 cm x 51,5 cm;

+ 08 (tám) cựa bằng kim loại;

+ Sim số 0945501819.

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước:

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màn hình cảm ứng, màu đen, số IMEI 1: 3534580608618/01, số IMEI 2: 353416080608616/01;

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màn hình cảm ứng, số IMEI 1: 865222048524957, số IMEI 2: 865222048524940;

+ 01 (một) cái cân đồng hồ hiệu Nhơn Hòa, màu xanh, loại 05kg đã qua sử dụng;

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại bàn phím, màu trắng, số seri 1: 3518588354651351, số seri 2: 351858836465134.

- Trả lại cho bị cáo Trần Hoài Th:

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại bàn phím, màu trắng đen đã qua sử dụng;

+ Tiền Việt Nam đồng 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Nhưng cần tiếp tục quản lý để đảm bảo cho việc thi hành án.

(Các vật chứng này hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện C đang quản ).

3. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Tr và bị cáo Trần Hoài Th mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án sơ thẩm xử công khai, báo cho các bị cáo và người tham gia tố tụng biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

93
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tổ chức đánh bạc số 38/2023/HS-ST

Số hiệu:38/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Trà Vinh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:18/07/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về