Bản án về tội tổ chức đánh bạc số 31/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 31/2023/HS-ST NGÀY 03/03/2023 VỀ TỘI TỔ CHỨC ĐÁNH BẠC

Ngày 03 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 112/2022/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số: 04/2023/QĐST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Trần Văn D, sinh ngày 24 tháng 7 năm 1994 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn 2, xã M, huyện T, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị C; có vợ là Nguyễn Thị Thu P và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 26 tháng 01 năm 2022 đến ngày 29 tháng 01 năm 2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

2. Nguyễn Thị Thu P, sinh ngày 05 tháng 01 năm 1999 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn 2, xã M, huyện T, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Bùi Thị H; có chồng là Trần Văn D và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

3. Nguyễn Văn T, sinh ngày 26 tháng 01 năm 1992 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn 9, xã C, huyện T, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Hoàng Thị V; chưa có vợ con; tiền sự, tiền án: Không; bị tạm giữ từ ngày 26 tháng 01 năm 2022 đến ngày 29 tháng 01 năm 2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị H, chị Trần Thị P, anh Lâm Hải Đ, anh Nguyễn Đ, anh Hà Trung K; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 25/01/2022, Tổ công tác Công an huyện Thủy Nguyên kiểm tra, phát hiện Lâm Hải Đ và Nguyễn Thị H có hành vi bán số lô, số đề. Vật chứng thu giữ gồm: Thu của Đ số tiền 1.970.000 đồng, 01 bảng ghi số lô đề; thu của H số tiền 3.010.000 đồng, 01 bảng ghi số lô, số đề. Tại đây Đ và H đều khai nhận ghi số lô, đề thuê cho Trần Văn D để hưởng phần trăm trên số tiền ghi được.

Căn cứ vào lời khai của Đ và H, tổ Công tác Công an huyện Thủy Nguyên đã tiến hành khám xét khẩn cấp nhà Trần Văn D và bắt quả tang Trần Văn D, Nguyễn Thị Thu P và Nguyễn Văn T đang có hành vi tổng hợp các số lô, số đề từ các nhóm zalo của những người ghi đề thuê chuyển đến máy điện thoại di động. Thu giữ tại mặt bàn 15 tờ giấy A4 ghi chép các số liên quan đến hành vi đánh bạc được thua bằng tiền, 03 máy tính cầm tay, 03 bút bi, 01 điện thoại di động Iphone 7 gắn số thuê bao 0562574xxx có cài đặt Zalo tên Saphire; 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax gắn số 0879476xxx của Dcó cài đặt Zalo tên “David”; 01 điện thoại di động Iphone X gắn số thuê bao 0704147xxx của T tên Zalo “Aaaa”.

Tại cơ quan điều tra Trần Văn D, Nguyễn Thị Thu P, Nguyễn Văn T khai nhận: D nảy sinh ý định làm chủ bán số lô, số đề từ giữa năm 2019. Để thực hiện ý định trên D thuê Nguyễn Văn T giúp cộng số lô, số đề, tham gia vào 09 nhóm Zalo với tài khoản “Aaaaa” do D lập và thỏa thuận trả lương 8.000.000 đồng/tháng, T đồng ý. D bảo Nguyễn Thị Thu P (vợ D) tham gia hỗ trợ D trong việc cộng các bảng đề và gửi vào các nhóm Zalo, san các số đề và ghi chép ra giấy các số đề mà D đọc và lập cho P tài khoản Zalo có tên là “Sophia”. D thuê một số người trong xã Mỹ Đồng và một số người quen qua mạng xã hội ghi số lô, số đề cho mình. D thỏa thuận hình thức chơi, tỷ lệ cá cược đánh bạc được thua bằng tiền, cụ thể như sau: Người đánh bạc trực tiếp bỏ tiền và ghi số đề, số lô tại các điểm do D thuê. Người ghi đề thuê khi có khách ghi số thì ghi chép vào một tờ giấy khổ A4 gọi là bảng đề và đưa cho người đánh 01 tờ phiếu gọi là tích kê để sau này nếu trúng giải thì đến nhận tiền. Trong bảng đề có ghi các con số do khách đánh và tương ứng với số tiền, hình thức đánh (lô, đề, xiên, ba càng và chỉ ghi con số cùng số tiền khách đánh). Khoảng 18 giờ đến 18 giờ 25 phút hàng ngày người ghi đề thuê sẽ chụp ảnh bảng đề qua điện thoại hoặc nhắn các số đã ghi cho khách gửi vào nhóm ZALO tương ứng do D lập sẵn và làm trưởng nhóm, D xem nội dung và xác nhận bằng cách thả tim mỗi tin nhắn. Tỷ lệ cá cược được D đặt ra như sau: Đối với số đề, người ghi cùng xã khi trúng thưởng được trả gấp 90 lần số tiền đã đánh, người ghi thuê được hưởng 7% trên số tiền khách ghi; người ngoài xã Mỹ Đồng khi trúng thưởng được trả 80 lần, người ghi thuê được hưởng 18% trên số tiền khách ghi. Đối với số lô, xiên: Xiên đôi trúng được trả 15 lần, xiên 3 được trả 50 lần, xiên 4 được trả gấp 200 lần, người ghi được 4% trên số tiền khách ghi; đối với ba càng khách trúng được trả gấp 500 lần, người ghi thuê được hưởng 7% trên số tiền khách ghi. Việc trả thưởng sẽ được D trả trực tiếp cho người bán đề thuê hoặc thông qua các số tài khoản cá nhân, những số tài khoản cá nhân ngoài việc dùng để giao dịch trong việc nhận hoặc chuyển tiền số lô, số đề thì D còn sử dụng vào các giao dịch khác hàng ngày. D đã lập 04 tài khoản Zalo có tên “David” và “Bbbb” do D trực tiếp sử dụng; tài khoản “Saphire” D đưa cho P (vợ D) sử dụng và tài khoản “Aaaa” D đưa cho T sử dụng để làm trưởng nhóm tổng hợp số liệu mà những người ghi đề thuê chuyển đến. Trên cơ sở đó D đã lập được 24 nhóm Zalo để thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền bằng hình thức bán số lô, số đề.

Khoảng 17 giờ 30 phút, hàng ngày D, P, T bắt đầu lên các nhóm Zalo để xác nhận và nhặt ra các số đề, lô, xiên, ba càng từ những người ghi đề thuê để viết ra giấy A4. Sau đó D, T lọc ra các số lô, số đề; số nào nhiều tiền thì D, T chuyển cho P để P chuyển cho người khác. Khi có kết quả xổ số miền Bắc thì D, P, T sẽ đối chiếu và tính kết quả thắng thua. Khoảng 18 giờ 15 ngày 25/01/2022 (khi chưa có kết quả mở thưởng sổ xố miền Bắc) D, T, P đang ngồi cộng số lô, đề và xác nhận số tiền do các nhóm zalo gửi đến tại gian bếp nhà D thì bị lực lượng Công an bắt quả tang và thu giữ vật chứng như trên. Số tiền đánh bạc mà các nhóm zalo gửi cho D và được D xác nhận số tiền đánh bạc, cụ thể như sau:

Nhóm ABC (của H): Anh H đã gửi vào nhóm Zalo tổng số tiền bán và D đã xác nhận là 19.300.000 đồng;

Nhóm CH, CH mật, CH susu (đều của H): H đã gửi vào nhóm Zalo tổng số tiền bán số lô, số đề và D đã xác nhận là 12.552.000 đồng;

Nhóm A Kiên (của Hà Trung K): K đã gửi vào nhóm Zalo tổng số tiền bán số lô, số đề và D đã xác nhận là 1.900.000 đồng;

Nhóm A dung (của Nguyễn Văn D): D đã gửi vào nhóm Zalo tổng số tiền bán số lô, số đề và D đã xác nhận là 4.000.000 đồng;

Nhóm A bon (của T): T đã gửi vào nhóm Zalo tổng số tiền bán số lô, số đề và D đã xác nhận là số tiền 14.230.000 đồng;

Nhóm HP (Thần Phát Tài, trú tại Hải Phòng): Thần Phát Tài đã gửi vào nhóm Zalo tổng số tiền bán số lô, số đề và D đã xác nhận là 19.450.000 đồng;

Nhóm A Tuan (của T): T đã gửi vào nhóm Zalo tổng số tiền bán số lô, số đề và D đã xác nhận là 26.375.000 đồng;

Nhóm CP (của P): P đã gửi vào nhóm Zalo tổng số tiền bán số lô, số đề và D đã xác nhận là 1.890.000 đồng;

Nhóm A toan (của Nguyễn Đăng T): T đã gửi vào nhóm Zalo tổng số tiền bán số lô, số đề và D đã xác nhận là 4.560.000 đồng;

Nhóm A Đ (của Lâm Hải Đ): Đ đã gửi vào nhóm Zalo tổng số tiền bán số lô, số đề và D đã xác nhận là 1.770.000 đồng;

Nhóm C Nga (của N): N đã gửi vào nhóm Zalo tổng số tiền bán số lô, số đề và D đã xác nhận là 13.555.000 đồng;

Tổng số tiền D cùng các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi số lô, số đề trong ngày 25/01/2022 đã xác nhận là 119.582.000 đồng.

Ngoài ra, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác định Nguyễn Thị H (trong nhóm Zalo H) và Hà Trung K (trong nhóm Zalo A K), Nguyễn Thị H (trong nhóm Zalo C.ha) và Trần Thị P (trong nhóm Zalo CP) và Nguyễn Đăng T (trong nhóm Zalo A Toan) lên làm việc. Tại cơ quan điều tra H, K, H, P, T đã khai nhận hành vi bán đề thuê cho D phù hợp nội dung nêu trên. Ha đã tự nguyện giao nộp 1.000.000 đồng, Hà Trung K đã giao nộp số tiền 1.900.000 đồng; H đã giao nộp 4.660.000 đồng, P đã giao nộp 3.120.000 đồng, T tự nguyện giao nộp 4.560.000 đồng. Số tiền này do H, K, H, P, T đã bán số lô, số đề cho khách trong ngày 25/01/2022 nhưng không nhớ được tên, tuổi, địa chỉ của những người đã mua số lô, đề. Ngoài ra, còn những đối tượng khác trong các nhóm Zalo tham gia ghi số lô, số đề thuê cho D hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể.

Vật chứng vụ án: Vật chứng của vụ án: 03 máy tính cầm tay, 03 bút bi, 01 điện thoại di động Iphone 7 gắn số thuê bao 0562574xxx; 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax gắn số 0879476xxx; 01 điện thoại di động Iphone X gắn số thuê bao 0704147xxx và số tiền 20.220.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 124CT-VKSTN ngày 29 tháng 10 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố H truy tố các bị cáo Trần Văn D, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Thu P đồng phạm về tội “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Các bị cáo D, P, T khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản Cáo trạng. Những người làm chứng đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và được công bố tại phiên tòa thể hiện đều thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố H có quan điểm: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của các bị cáo, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố H đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn D với mức án từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tổ chức đánh bạc”. Phạt bị cáo Trần Văn D số tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.

- Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thị Thu P với mức án từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tổ chức đánh bạc”.

- Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T với mức án từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tổ chức đánh bạc”.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Nguyễn Thị Thu P và Trần Văn T.

- Thời gian thử thách và án phí theo quy định của pháp luật.

- Xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 20.220.000 (hai mươi triệu, hai trăm hai mươi nghìn) đồng đã giao nộp của Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H, Trần Thị P, Lâm Hải Đ, Nguyễn Đăng T, Hà Trung K. Tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước 03 máy tính cầm tay; 01 điện thoại di động Iphone 7 gắn số thuê bao 0562574xxx; 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax gắn số 0879476xxx; 01 điện thoại di động Iphone X gắn số thuê bao 0704147xxx đã thu giữ của Trần Văn D. Tịch thu tiêu huỷ 03 bút bi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, Kiểm sát viên thu thập; các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác cung cấp đều được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về những tài liệu chứng cứ đã được thu thập, cung cấp. Do đó, những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai nhận của Trần Văn D, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Thu P tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, khẳng định: Trần Văn D có hành vi thuê người và lập 24 nhóm Zalo với mục đích để phục vụ việc các đối tượng đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh số lô, số đề. Nguyễn Văn T là người làm thuê. Nguyễn Thị Thu P (vợ D) đã có hành vi giúp sức cho D trong việc ghi chép, tổng hợp và cộng các bảng số lô, số đề tại các nhóm Zalo theo sự chỉ đạo của D với mục đích để các đối tượng đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh số lô, số đề, bị Công an bắt quả tang vào ngày 25/01/2022. Tổng số tiền các đối tượng dùng đánh bạc là 119.582.000 đồng, tuy nhiên các bị cáo chưa nhận được số tiền này. Như vậy, hành vi của D, P, T đủ yếu tố cấu thành đồng phạm tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.

- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

[3] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong cộng đồng dân cư nên cần xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Các bị cáo cùng nhau thực hiện tội phạm nên phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm theo Điều 17 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần xem xét vai trò của từng bị cáo trong đồng phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo để phân hóa tội phạm cũng như áp dụng mức hình phạt tương xứng theo quy định tại Điều 58 Bộ luật Hình sự.

- Xét vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

[5] Vụ án có đồng phạm, D là chủ mưu, thuê người và lập 24 nhóm Zalo cho các đối tượng ghi số lô, đề thuê nhằm mục đích thu lợi bất chính nên vai trò của D là cao nhất. P tham gia với vai trò giúp sức tích cực là vợ của D, trực tiếp ghi số lô đề D không nhận để chuyển người khác nên P có vai trò thấp hơn D nhưng cao hơn T. T là người làm thuê cho D, chỉ tổng hợp kết quả nên T có vai trò thấp nhất. Do vậy, D phải chịu mức hình phạt cao nhất, P chịu mức hình phạt thấp hơn D và cao hơn T.

[6] Các bị cáo D, T, P không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải nên D, T, P đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nguyễn Thị Thu P đang nuôi hai con nhỏ dưới 36 tháng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

[8] Ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 3 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo Trần Văn D là chủ mưu, là người hưởng lợi của việc ghi số lô đề nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Mức tiền phạt đại diện Viện Kiểm sát đưa ra là có căn cứ và phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của D nên có căn cứ để chấp nhận. Đối với các bị cáo Nguyễn Thị Thu P, Trần Văn T đều không có nghề nghiệp thu nhập ổn định, P hiện đang nuôi 02 con dưới 36 tháng tuổi; T chỉ là người làm thuê nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo P, T.

- Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác:

[9] Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đối với 03 máy tính cầm tay, 01 điện thoại di động Iphone 7 gắn số thuê bao 0562574xxx; 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax gắn số 0879476xxx; 01 điện thoại di động Iphone X gắn số thuê bao 0704147xxx là P tiện, dụng cụ dùng vào việc phạm tội và còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước. Đối với 03 bút bi là P tiện dụng cụ dùng để phạm tôi nhưng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với số tiền 20.220.000 đồng thu giữ của Đ, H, H, K, H, P, T là tiền dùng sử dụng vào phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Đối với các phiếu ghi đề là tài liệu được lưu trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử không xét.

[10] Đối với Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H, Trần Thị P, Lâm Hải Đ có hành vi bán số lô, số đề thuê cho D nhưng tổng số tiền đều dưới 5.000.000 đồng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; Công an huyện Thủy Nguyên đã ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc nên Hội đồng xét xử không xét.

[11] Ngoài ra D, T, P khai đã bán số lô, số đề từ năm 2019, tài liệu điều tra ngoài lời khai của các bị cáo hiện không xác định được số tiền cụ thể sử dụng để đánh bạc và số người tham gia đánh bạc của từng lần, không có căn cứ để xử lý nên Hội đồng xét xử không xét.

[12] Đối với hành vi của Hà Trung K, Nguyễn Đăng T có dấu hiệu của tội Đánh bạc, hiện tại K và T đều vắng mặt tại địa P. Các đối tượng còn lại được D thuê ghi đề trong các nhóm Zalo hiện tại chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thủy Nguyên đã ra quyết định tách vụ án Đánh bạc để tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xét.

[13] Các bị cáo Trần Văn D, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Thu P phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm a, c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trần Văn D 30 (ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án về tội “Tổ chức đánh bạc”.

Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Trần Văn D số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng để sung ngân sách Nhà nước.

2. Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Thị Thu P 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án về tội “Tổ chức đánh bạc”.

3. Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn T 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án về tội “Tổ chức đánh bạc”.

Giao bị cáo Trần Văn D, Nguyễn Thị Thu P cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, thành phố H giám sát, giáo dục; gia đình bị cáo Trần Văn D, Nguyễn Thị Thu P có trách nhiệm kết hợp với chính quyền địa P trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, thành phố H giám sát, giáo dục; gia đình bị cáo Nguyễn Văn T có trách nhiệm kết hợp với chính quyền địa P trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

- Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự hai lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự như sau:

Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 Luật Thi hành án hình sự.

Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.

- Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 45; điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Trần Văn D, Nguyễn Thị Thu P, Nguyễn Văn T theo các Quyết định Cấm đi khỏi nơi cư trú số 131, 132, 133/2022/HSST-QĐCĐKNCT ngày 14 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố H.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 20.220.000 (hai mươi triệu, hai trăm hai mươi nghìn) đồng đã thu giữ của Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H, Trần Thị P, Lâm Hải Đ, Nguyễn Đăng T, Hà Trung K.

Tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước 03 máy tính cầm tay; 01 điện thoại di động Iphone 7 gắn số thuê bao 0562574xxx; 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax gắn số 0879476xxx; 01 điện thoại di động Iphone X gắn số thuê bao 070414xxxx đã thu giữ của Trần Văn D.

Tịch thu tiêu huỷ 03 bút bi.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 96/QĐ-VKS ngày 27 tháng 10 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 10 năm 2022 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T; Biên lai thu tiền số 0004638 ngày 02/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T)

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc các bị cáo Trần Văn D, Nguyễn Thị Thu P, Nguyễn Văn T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo Trần Văn D, Nguyễn Thị Thu P, Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

58
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tổ chức đánh bạc số 31/2023/HS-ST

Số hiệu:31/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:03/03/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về