Bản án về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có số 28/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH LONG AN

 BẢN ÁN 28/2023/HS-ST NGÀY 28/04/2023 VỀ TỘI TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ

Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Tấn L, sinh ngày 18-7-2003, tại Long An; Nơi cư trú: Số 511, ấp NLB, xã LBN, thành phố T.A, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H1 và bà Ngô Thị K; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01-5-2022 đến ngày 16-6-2022 được cho bảo lãnh tại ngoại. (Có mặt) - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Dương Hữu N, sinh năm 1993;

Địa chỉ: Tổ 22 đường NA10, phường MP 2, thị xã BC, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 7-2021, Nguyễn Tấn L quen biết với người đàn ông tên L1 (nhà ở huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An), có trao đổi số điện thoại với nhau để tiện liên lạc. L1 đã nhiều lần gọi điện thuê L vận chuyển “xe đá” (xe mô tô do người khác phạm tội mà có) đi tiêu thụ, nhưng L không đồng ý.

Khoảng 08 giờ ngày 01-5-2022, L1 lại gọi điện thoại thuê L chạy xe đá, từ chân cầu B thuộc đường N2 (thuộc xã TL, huyện TT) về cầu MV (thuộc xã BHH, huyện H) để tiêu thụ, giá 500.000 đồng/chuyến, giao xe xong sẽ nhận tiền công. Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên L đồng ý.

L nhờ người bạn tên K1 (nhà ở xã LBN, thành phố T.A, tỉnh Long An) dùng xe mô tô chở L đến địa điểm nhận xe. L không nói cho K1 biết là đi đâu, làm gì. Đến cầu B, K1 quay về. L thấy gần đó có người thanh niên khoảng 20 tuổi đứng cạnh một xe mô tô. Trước đó đã được L1 hướng dẫn, nên L đến nói với người này là anh L1 gọi đến nhận xe. Người này giao cho L xe mô tô Blade màu đen biển số 38P1-xxx.27 rồi rời đi. L theo hướng dẫn chạy xe về hướng về cầu MV để tiêu thụ.

Đến 09 giờ 30 phút cùng ngày, L điều khiển xe về đến đoạn đường ĐT83x thuộc ấp 2, xã BHH, huyện H thì bị lực lượng Công an chốt chặn bắt quả tang người cùng tang vật. Tại cơ quan điều tra, L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tang vật tạm giữ: 01 điện thoại di động hiệu Apple loại Iphone 8 plus màu trắng hồng, EMEI 35950084342605, gắn sim số 0368854xxx; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Blade màu đen số khung RLHJA3651GY000543 số máy JA36E0402149 biển số 38P1-xxx.27.

Tại Kết luận định giá số 15/KL-TCKH ngày 04-5-2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H xác định xe mô tô biển số 38P1-xxx.27 nêu trên giá trị 9.550.000 đồng.

Qua điều tra xác định xe mô tô biển số 38P1-xxx.27 là tài sản hợp pháp của ông Dương Hữu N bị mất vào khoảng 11 giờ đến 13 giờ 30 phút ngày 30-4-2022, tại phòng trọ số 16/5, đường số 2, khu phố BĐ 3, phường B.A, thành phố D.A, tỉnh Bình Dương. Cơ quan điều tra Công an huyện H đã trả lại xe cho ông N theo Quyết định xử lý vật chứng số 14 ngày 12-5-2022 và Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 15-5-2022; Ông N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

Cáo trạng số 29/CT-VKS-ĐH ngày 16-6-2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố bị cáo Nguyễn Tấn L về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo L khai nhận đã thực hiện hành vi vận chuyển tài sản do người khác phạm tội mà có là 01 xe mô tô loại Blade biển số 38P1-xxx.27 và bị bắt quả tang như nội dung Cáo trạng đã truy tố; Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải, hứa không tái phạm, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì hoàn cảnh gia đình khó khăn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn L phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Căn cứ khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 32 và Điều 38 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn L từ 09 tháng đến 01 năm tù.

+ Về các biện pháp tư pháp, căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, các Điều 46, 47 và 48 của Bộ luật Hình sự, đề nghị: Xe mô tô biển số 38P1-xxx.27 Cơ quan điều tra đã xử lý xong nên không đề cập xem xét; Điện thoại di động hiệu Apple, loại Iphone 8 plus gắn sim số: 0368854xxx là điện thoại bị cáo L sử dụng làm phương tiện liên lạc để thực hiện tội phạm, đề nghị tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước.

+ Về trách nhiệm dân sự: Ông Dương Hữu N vắng mặt tại phiên tòa, đã nhận lại xe mô tô biển số 38P1-xxx.27 xong, trong lời khai không yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp theo nên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can của Cơ quan cảnh sát điều tra, Quyết định phê chuẩn khởi tố bị can và Cáo trạng truy tố bị cáo của Viện kiểm sát đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Những tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát thu thập đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[2] Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 01-5-2022, tại ấp 2, xã BHH, huyện H, tỉnh Long An, Nguyễn Tấn L bị bắt quả tang đang vận chuyển đi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Blade, màu đen, biển số 38P1-xxx.27 từ chân cầu B (xã TL, huyện TT, tỉnh Long An) về cầu MV (xã BHH, huyện H, tỉnh Long An); Giá trị xe được xác định là 9.550.000 đồng.

[3] Tại phiên toà, bị cáo L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp khách quan với Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập lúc 09 giờ 40 phút, ngày 01-5-2022 cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.

[4] Bị cáo L đủ lý trí và năng lực để nhận thức được hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Đã đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo L phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Cáo trạng số 29/CT-VKS-ĐH ngày 16-6-2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố bị cáo L với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[6] Hành vi của bị cáo L là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự công cộng và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, gây trở ngại cho công tác điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự, tạo điều kiện khuyến khích cho những người khác đi vào con đường phạm tội, mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Hành vi của bị cáo L cần được xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[7] Xét bị cáo L phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân bị cáo không có việc làm ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn - là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo L là có căn cứ pháp luật.

[9] Đối với những người L khai ra như: L1 là người thuê L, K1 là người chở L đến cầu B và người thanh niên giao xe cho L, chỉ có lời khai của bị cáo, không thể xác định nhân thân lai lịch, không mời làm việc được, Cơ quan điều tra tách ra điều tra làm rõ, xử lý sau là phù hợp. Nhằm tránh bỏ lọt tội phạm không được xử lý, kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

[10] Về các biện pháp tư pháp, căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, các Điều 46, 47 và 48 của Bộ luật Hình sự, xét thấy:

[10.1] Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả cho ông Dương Hữu N xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Blade, màu đen, biển số 38P1-xxx.27 theo Quyết định xử lý vật chứng số 14/QĐ-CQĐT ngày 12-5-2022 và Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 15-5-2022; Việc trả lại tài sản của cơ quan điều tra là phù hợp, nên không tiếp tục đề cập.

[10.2] Đối với điện thoại di động hiệu Apple, loại Iphone 8 plus gắn sim số 0368854xxx là điện thoại bị cáo L sử dụng làm phương tiện liên lạc để thực hiện tội phạm, nên tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước là phù hợp. Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện H đang quản lý.

[11] Về trách nhiệm dân sự: Ông Dương Hữu N vắng mặt tại phiên tòa, đã nhận lại xe mô tô biển số 38P1-xxx.27 xong, trong lời khai không yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp theo nên không đề cập.

[12] Về án phí: Bị cáo L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn L phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 32, Điều 38 Bộ luật hình sự; các Điều 299 và 326 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam (từ ngày 01- 5-2022 đến ngày 16-6-2022).

- Về các biện pháp tư pháp, áp dụng các Điều 46, 47 và 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Apple, loại Iphone 8 plus, màu trắng hồng, EMEI 35950084342605, gắn sim số 0368854xxx. Vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện H đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 22/QĐ-VKSĐH ngày 16-6-2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện H và Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20-6-2022.

- Về án phí, áp dụng các Điều 135 và 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Tấn L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo, áp dụng các Điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (ngày 28-4-2023). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

62
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có số 28/2023/HS-ST

Số hiệu:28/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Huệ - Long An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 28/04/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về