TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
BẢN ÁN 58/2024/HS-ST NGÀY 22/08/2024 VỀ TỘI TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN HÀNG CẤM
Ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện LN, tỉnh Bình Phước xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 51/2024/TLST-HS ngày 24/6/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HS ngày 01/8/2024 và thông báo dời ngày xét xử số 11 ngày 13/8/2024 đối với các bị cáo:
1. Huỳnh Hồng S, sinh ngày 21/3/1999 tại Bình Phước; Tên gọi khác: Bin; Nơi cư trú: Kp Ninh Thạnh, TT LN, huyện LN, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn:12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Hồng Đ và bà Trần Thị Phương L. Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: không; Tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/01/2024 đến ngày 17/01/2024 chuyển tạm giam đến ngày 02/02/2024 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp cho bảo lĩnh.
2. Hà Duy A, sinh ngày 04/8/1999 tại Lâm Đồng; Tên gọi khác: Không; HKTT: Thôn Kim Phát, xã Bình Thạnh, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng: Nơi ở hiện tại: Thôn Tân Lâm, xã Đ ,huyện LH, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Anh T và bà Lê Đỗ Hồng D; Vợ Phạm Thị Huỳnh T. Bị cáo có 01 người con sinh năm 2024.
Tiền án: không; Tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/3/2024 đến ngày 14/3/2024 chuyển tạm giam đến ngày 05/4/2024 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp cho bảo lĩnh.
3. Phạm Đinh Văn T, sinh ngày 09/02/2002 tại Lâm Đồng; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn An Phước, xã Đ , huyện LH, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn T và bà Đinh Thị Kim V; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền sự: không.
Tiền án: 01. Ngày 22/9/2021 bị tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 06 tháng tù về tội gây rối trật tự công cộng (Bản án số 31/2021/HSST), đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/5/2022.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 01/4/2024 đến ngày 07/5/2024 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp cho bảo lĩnh.
Các bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu mua pháo để sử dụng tết T3 có hỏi Hà Duy A: “anh biết chỗ nào lấy pháo không”, Duy A trả lời: “anh biết, có người bạn dưới Bình Phước để anh hỏi nó xem sao có thì anh báo”. Sau đó, Duy A liên hệ với Huỳnh Hồng S thì S2 nói có biết chỗ bán pháo, để S2 hỏi rồi trả lời sau.
Sau đó, S2 liên lạc với người đàn ông có tên thường gọi là “Tùng Đen” (không xác định được nhân thân lai lịch) để hỏi mua pháo. S2 hỏi giá pháo loại 49 ống, và pháo banh. Tùng Đen trả lời pháo loại 49 một thùng có 18 bệ giá 11.000.000, pháo banh 500.000 đồng/bịch.
Duy A gọi điện báo lại số tiền như trên cho T3 thì T3 đồng ý mua 01 thùng pháo hoa và 02 bịch pháo banh.
Đến trưa ngày 06/01/2024, S2 gọi điện hối Duy A chuyển tiền cho S2 để trả tiền cho Tùng Đen mới nhận được pháo thì Duy A mới gọi điện cho T3 nói: “Có lấy không thì chuyển tiền qua đây rồi anh chuyển tiền cho nó để lấy pháo”, T3 đồng ý, do tài khoản của T3 còn hơn 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng) không đủ số tiền mua pháo. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, bà Đinh Thị Thu V4 (mẹ ruột T3) đi làm về. Tại đây, T3 hỏi mượn bà V4 số tiền 7.500.000đ (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) nói là để sửa xe mô tô của T3, bà V4 đồng ý. Sau đó, bà V4 đi bộ xuống tiệm tạp hóa gần nhà để nhờ chị Nguyễn Thị Ngọc chuyển số tiền 7.500.000đ vào tài khoản của T3 rồi bà V4 đưa lại tiền mặt cho chị Ngân thì chị Ngân đồng ý chuyển số tiền.
Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, T3 chuyển tiền cho Duy A số tiền 12.000.000đ (mười hai triệu đồng) và nhắn với Duy A: “tiền xe anh nhận hàng anh chuyển rồi có thiếu hụt em chuyển sau”, Duy A nhận tiền và tiếp tục chuyển số tiền trên cho S2 qua số tài khoản cá nhân của S2. S2 nhận được tiền và báo lại cho Duy A.
Đến khoảng 12 giờ ngày 08/01/2024, S2 đến vị trí hẹn tại ấp 5, xã Lộc Điền, huyện LN, tỉnh Bình Phước thì thấy “Tùng Đen” đứng chờ sẵn. S2 đưa cho Tùng Đen 11.000.000 đồng. Khoảng 10 phút sau, Tùng Đen điều khiển xe quay lại, phía sau xe có một bao tải màu xanh lá cây. S2 đến chỗ bao tải bê lên chuyển qua phía sau xe mô tô của S2 và chở về nhà tại khu phố Ninh Thạnh, thị trấn LN, huyện LN giấu vào gầm giường trong phòng ngủ của S2. Sau đó S2 gọi cho Duy A hỏi mượn 1.000.000 đồng, Duy A đồng ý. Một lúc sau S2 thấy tài khoản Vietcombank nhận được 1.200.000 đồng. S2 gọi điện thoại cho Duy A thì Duy A nói 200.000 đồng dư là Duy A cho S2 tiền công mua pháo giúp Duy A. Sau đó S2 nói với Duy A về việc đóng gói các hộp pháo thì Duy A tiếp tục chuyển cho S2 200.000 đồng để mua các vật dụng đóng gói pháo.
Đến 19 giờ cùng ngày S2 điều khiển xe mô tô biển số: 93F1-166.xx đi đến tiện tạp hóa đối diện tiệm vàng “Hoàng Trọng” (Dốc chợ LN) để mua 01 (Một) thùng xốp sọc vàng-xanh-đỏ giá 75.000 đồng và 01 (Một) cuộn băng dán một mặt giá 25.000 đồng mang về nhà rồi tháo bao tải đã mua của Tùng Đen ra thấy bên trong bao tải có một thùng giấy màu nâu được dán băng keo, S2 tháo băng keo ra xem thì thấy bên trong có 18 (Mười tám) bệ pháo loại 49 ống, mỗi bệ có hình hộp chữ nhật, bên ngoài có dán giấy nhiều màu sắc và hình pháo hoa nhiều màu sắc. S2 lấy 18 bệ pháo xếp vào trong thùng xốp, đóng nắp lại rồi bê thử nhưng thấy nặng quá nên đã lấy 06 bệ ra để xếp vào một thùng giấy khác. Trong thùng xốp, S2 để 12 bệ pháo hoa đồng thời chèn 03 miếng xốp xung quanh các bệ pháo, phủ 02 bao nylon màu vàng (loại bao đựng rác) lên trên các bệ pháo hoa, tiếp tục lấy 01 bao nilon màu trắng-trong quấn quanh thùng giấy đựng màn hình LG màu đen để bên trên lớp bao nylon màu vàng, sau đó đóng nắp thùng xốp rồi dán lại. Đối với thùng giấy, sau khi xếp 06 bệ pháo hoa vào thì S2 có để bên trên một miếng xốp màu trắng, đóng thùng giấy rồi dán kín lại. Sau đó, S2 lấy một cây bút lông có sẵn trong nhà ghi vào nắp thùng xốp dòng chữ: “Gửi: 03330718xx; Màn hình LCD 24 inch + CPU; Nhận: 09118952xx/Bưu điện Đức Trọng”, “Hàng dễ vỡ nhẹ tay” còn bên trên thùng giấy ghi dòng chữ: “Bộ loa SE 300K; Bưu điện Đức Trọng; 09118952xx; Nhẹ tay”. S2 ghi các số điện thoại là thông tin người nhận, người gửi; còn các dòng chữ ghi trên thùng xốp và thùng giấy là để người khác không nghi ngờ bên trong có chứa pháo. Sau khi đóng pháo vào các thùng giấy và thùng xốp, S2 để trong phòng ngủ của mình. Đến khoảng 05 giờ ngày 09/01/2024, S2 để thùng giấy lên chỗ ba ga trước yên xe mô tô BSKS: 93F1-166.xx và thùng xốp ở phía sau yên xe mô tô rồi điều khiển xe đến khu vực ngã tư Cây xăng Quân đội để đón xe (do sợ đi đường chính bị cơ quan Công an phát hiện nên S2 điều khiển xe mô tô chở pháo đi theo hướng tránh Quốc Lộ 13) khi đi đến khu vực gần quán ăn “Hương đồng quê 2” thuộc ấp 1, xã Lộc Thái thì bị lực lượng Công an dừng phương tiện kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang S2 đang vận chuyển pháo hoa (trong thùng giấy có 06 hộp pháo hoa và trong thùng xốp có 12 hộp pháo hoa) rồi đưa S2 về trụ sở Công an để làm việc.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (Một) thùng giấy màu vàng kích thước (38x30x24) cm bên trong có 06 khối hình hộp, bên ngoài có dán giấy nhiều màu sắc và các dòng chữ nước ngoài, bên trên các khối hình hộp được phủ bởi 01 miếng xốp màu trắng kích thước (37x30) cm.
- 01 (Một) thùng xốp màu vàng – xanh – đỏ kích thước (59x44x37)cm bên trong có 12 khối hình hộp, bên ngoài có dán giấy nhiều màu sắc và các dòng chữ nước ngoài, bên trên các khối hình hộp, xung quanh được chèn các miếng xốp màu trắng và được phủ lên trên bề mặt 02 bao nylon màu vàng kích thước (72x33), bên trên hai bao nylon màu vàng được đặt 01 màn hình ti vi loại LG, màu đen, kích thước (44x27) cm được quấn bên ngoài nylon màu trắng.
- 01 (một) cuộn băng keo trong (đã qua sử dụng).
- 01 (một) cây bút lông màu xanh (đã qua sử dụng).
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ, trắng, biển số: 93F1- 166.xx.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A1 màu đen, bên trong gắn sim điện thoại số 09453412xx và sim điện thoại số 03330718xx.
Căn cứ Kết luận giám định số 83/KL-KTHS ngày 14/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận: 18 khối hình hộp có cùng kích thước (17,0x17,0x10,0) bên ngoài có dán giấy nhiều màu sắc, in chữ số“CHONG KUL” bên trong mỗi khối có 49 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau thành hình khối(Ký hiệu M) được niêm phong gửi đi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ) có chứa thuốc pháo khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 30,9kg (ba mươi phẩy chín).
Quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Cáo trạng số 45/CT-VKSLN ngày 17/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện LN truy tố bị cáo Huỳnh Hồng S, Hà Duy A, Phạm Đinh Văn T về tội “Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Huỳnh Hồng S, Hà Duy A, Phạm Đinh Văn T về tội “Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm” Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17,58, 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phạm Đinh Văn T từ 09 đến 12 tháng tù.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17,58, 35 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Hồng S từ 50.000.000 đến 55.000.000đ Xử phạt bị cáo Hà Duy A 50.000.000 đến 55.000.000đ Xử lý vật chứng:
- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ - trắng, BSKS: 93F1- 166.xx . Quá trình điều tra xác định bà Trần Thị Phương Lan cho S2 mượn xe mô tô làm phương tiện đi lại, bà Lan không biết việc bị cáo Huỳnh Hồng S (con ruột của bà Lan) sử dụng xe mô tô nêu trên để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô nêu trên cho bà Trần Thị Phương Lan.
- Đối với 16 (mười sáu) khối hình hộp, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc và có hình pháo hoa và các dòng chữ nước ngoài có tổng khối lượng 27,5 kg (là pháo nổ được hoàn lại sau giám định); 01 (Một) thùng giấy màu vàng kích thước (38x30x24) cm; 01(Một) miếng xốp màu trắng kích thước (37x30) cm; 01 (Một) thùng xốp màu vàng – xanh – đỏ kích thước (59x44x37)cm; 02 (Hai) bao nylon màu vàng kích thước (72x33); 01(Một) màn hình ti vi loại LG, màu đen, kích thước (44x27) cm (đã hỏng);
01 (một) cuộn băng keo trong (đã qua sử dụng); 01 (một) cây bút lông màu xanh (đã qua sử dụng). Đây là vật chứng thu giữ trong quá trình điều tra, không có giá trị sử dụng nên đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A1 màu đen, bên trong gắn sim điện thoại số 09453412xx và sim điện thoại số 03330718xx; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu xanh, bên trong điện thoại có gắn 01 sim số 09118952xx. Đây là phương tiện để Huỳnh Hồng S và Hà Duy A liên lạc trao đổi về việc mua pháo nên đề nghị HĐXX tịch thu sung quỹ.
Lời nói sau cùng của các bị cáo khi kết thúc phần tranh luận: Các bị cáo không có ai tranh luận và kêu oan.
Bị cáo S2: bị cáo biết hành vi củ minh là vi phạm pháp luật, xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo có cơ hội đực sửa chữa bản thân.
Bị cáo Duy A: Sauk hi bị tạm giữ, tạm giam, bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội, xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo T3: Đề nghị hội đồng xét xử xử đúng người đúng tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện LN, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện LN và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng.
[2] Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, lời khai của các bị cáo phù hợp với thời gian và địa điểm xảy ra vụ án, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ cơ sở khách quan để xác định:
Do có nhu cầu mua pháo về sử dụng nên ngày 05/01/2024 Phạm Đinh Văn T nhờ Hà Duy A mua giúp 01 thùng pháo hoa loại 49 (trị giá 11.000.000 đồng) và 02 hộp pháo bi với giá (1.000.000 đồng) và hứa sẽ cho 02 hộp pháo để tết đốt, Hà Duy A đồng ý. Sau đó Hà Duy A nhờ Huỳnh Hồng S mua pháo giúp, S2 đồng ý. Ngày 06/01/2024 T3 chuyển khoản cho Duy A 12.000.000 đồng và Duy A chuyển cho S2 12.000.000 đồng. Đến khoảng 12 giờ ngày 08/01/2024 S2 đến ấp 5, xã Lộc Điền, huyện LN, tỉnh Bình Phước gặp Tùng Đen (không rõ nhân thân lai lịch) mua pháo, S2 đưa Tùng Đen 11.000.000 đồng, Tùng Đen đưa cho S2 01 bao pháo nổ với khối lượng 30,9kg (do không có pháo banh nên Tùng Đen không giao), sau đó S2 đem số pháo trên về nhà tại khu phố Ninh Thạnh, thị trấn LN, huyện LN giấu vào gầm giường trong phòng ngủ của S2. Đến khoảng 05 giờ ngày 09/01/2024, S2 dùng xe mô tô điều khiển chở số pháo trên gửi cho xe khách cho Duy A, khi đi đến khu vực gần quán ăn “Hương đồng quê 2” thuộc ấp 1, xã Lộc Thái thì bị lực lượng Công an dừng phương tiện kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.
[3]Theo kết luật giám định số 83/KL-KTHS ngày 14/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước toàn bộ số pháo mà S2 mua đều là pháo nổ (pháo hoa nổ). Tổng khối lượng là 30,9kg.
Pháo hoa nổ là loại hàng hóa cấm lưu hành, kinh doanh và sử dụng, bị cáo S2 đã mua pháo cho Duy A và T3, T3 cũng đã chuyển tiền cho Duy A và Duy A cũng chuyển cho S2 12.000.000đ và S2 cũng đã đóng thùng đang trên đường chuyển cho Duy A, hành vi trên của T3, Duy A và S2 đã đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ vận chuyển hàng cấm.
Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, Bị cáo T3 là người muốn mua pháo đem về tàng trữ nhưng không biết người bán nên đã nhờ Duy A tìm người bán pháo để mua. Duy A đã liên lạc với S2 để nhờ S2 mua pháo dùm cho Duy A. S2 nhận lời và đã liên lạc với người tên là “Tùng Đen” không rõ nhân thân để mua pháo, sau khi mua được pháo S2 đem về nhà bỏ pháo vào thùng xốp, thùng giấy nhằm để không bị phát hiện, tuy nhiên quá trình vận chuyển bị lực lượng Công an huyên LN kiểm tra phát hiện.
Việc Duy A nhận lời mua pháo giúp T3 cũng không lấy tiền công và được T3 hứa cho 02 hộp pháo hoa nổ. Đối với S2 mua pháo giúp cho Duy A cũng không phải bán lại lấy lời, nhưng S2 cũng được Duy A cho 200.000đ.Như vậy cho thấy vai trò chính trong vụ án này là T3, mặc dù bị cáo không trực tiếp đi mua và vận chuyển pháo, nhưng bị cáo là chủ của số pháo, bị cáo đã chuyển 12.000.000đ cho Duy A để mua pháo. Bên cạnh đó bị cáo là người có tiền án nên hình phạt đối với bị cáo phải nghiêm và cao hơn các bị cáo khác.
Đối với bị cáo Duy A và S2 vai trò là người giúp cho T3 mua được pháo và sẽ chuyển về giao cho T3 để tàng trữ khi có dịp sẽ đem ra sử dụng, vai trò của S2 và Duy A tương đương nhau.
[4]Về ý thức chủ quan: Các bị cáo nhận thức được pháo nổ là loại hàng cấm nhưng vẫn mua mục đích của T3 là sẽ tặng cho người quen và để sử dụng đốt vào dịp tết nhằm thỏa mãn với sở thích cá nhân nên T3 đã nhờ Duy A mua và sẽ đem về cất giấu.
Trên cơ sở đó Viện kiểm sát nhân dân huyện LN truy tố các bị cáo về tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm quy định quy định tại điểm c khoản 1 điều 191 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.
- Đối với bà Đinh Thị Kim V4 (mẹ ruột của bị cáo Phạm Đinh Văn T): Bà V4 không biết việc T3 sử dụng số tiền 7.500.000 đồng bà đã cho T3 mượn để thực hiện hành vi mua bán trái phép pháo nổ nên CQĐT không xử lý đối với bà Đinh Thị Kim V4.
- Đối với bà Trần Thị Ngọc Ngân: Bà Đinh Thị Kim V4 đã nhờ bà Trần Thị Ngọc Ngân chuyển số tiền 7.500.000 đồng cho bị cáo Phạm Đinh Văn T, bà V4 không biết mục đích chuyển số tiền nêu trên để làm gì và không biết việc Phạm Đinh Văn T đã thực hiện hành vi mua bán trái phép pháo nổ nên CQĐT không xử lý đối với bà Trần Thị Ngọc Ngân.
- Đối với ông Huỳnh Hồng Đệ và bà Trần Thị Hương Lan – là cha mẹ ruột của bị cáo Huỳnh Hồng S: Ông Đệ, bà Lan không biết việc Huỳnh Hồng S đem pháo về nhà cất giấu trong phòng ngủ của S2 nên CQĐT không xử lý.
- Đối với có tên thường gọi là “Tùng Đen”, căn cứ lời khai của bị can Huỳnh Hồng S và quá trình điều tra xác minh không xác định được nhân thân lai lịch của người này, do vậy Cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý.
[5] Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hóa mà nhà nước cấm lưu thông, kinh doanh.
Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do đó, cần có hình phạt nghiêm tương xứng đối với tính chất và hậu quả của hành vi mà bị cáo gây ra.
Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ pháo cũng như tại phiên tòa, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiêm hình sự.
[6]Xét về nhân thân:
-Bị cáo Hà Duy A và Huỳnh Văn S2 các bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Hà Duy A và Huỳnh Văn S2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
-Bị cáo Phạm Đinh Văn T, bị cáo là người có tiền án, vào ngày 22/9/2021 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 06 tháng tù, đã chấp hành xong ngày 02/5/2022. Tính đến ngày phạm tội lần này, chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên, quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đầu thú và khai nhận toàn bộ quá trình phạm tội,cha ruột của bị cáo đang bị bệnh nặng, bị cáo cũng là lao động chính trong gia đình nên hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[7] Về vật chứng vụ án:
- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ - trắng, BSKS: 93F1- 166.xx . Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô nêu trên cho bà Trần Thị Phương Lan nên HĐXX không xem xét.
- Đối với 16 (mười sáu) khối hình hộp, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc và có hình pháo hoa và các dòng chữ nước ngoài có tổng khối lượng 27,5 kg (là pháo nổ được hoàn lại sau giám định); 01 (Một) thùng giấy màu vàng kích thước (38x30x24) cm; 01(Một) miếng xốp màu trắng kích thước (37x30) cm; 01 (Một) thùng xốp màu vàng – xanh – đỏ kích thước (59x44x37)cm; 02 (Hai) bao nylon màu vàng kích thước (72x33); 01(Một) màn hình ti vi loại LG, màu đen, kích thước (44x27) cm (đã hỏng);
01 (một) cuộn băng keo trong (đã qua sử dụng); 01 (một) cây bút lông màu xanh (đã qua sử dụng). Đây là vật chứng thu giữ trong quá trình điều tra, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A1 màu đen, bên trong gắn sim điện thoại số 09453412xx và sim điện thoại số 03330718xx; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu xanh, bên trong điện thoại có gắn 01 sim số 09118952xx. Đây là phương tiện để Huỳnh Hồng S và Hà Duy A liên lạc trao đổi về việc mua pháo nên cần tịch thu sung quỹ.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo luật định Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Về tội danh:
T3 bố các bị cáo Huỳnh Hồng S, Hà Duy A, Phạm Đinh Văn T phạm tội “Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm” 2 Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm s khoản 1,2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17,58,50, 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phạm Đinh Văn T 09(chín) tháng tù.
Thời gian tính tù từ ngày đi chấp hành án. Được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/4/2024 đến ngày 07/5/2024.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17,58,50, 35 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Hồng S 50.000.000đ(năm mươi triệu )sung ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Hà Duy A 50.000.000đ (năm mươi triệu )sung ngân sách nhà nước.
3 Vật chứng vụ án:
Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 16 (mười sáu) khối hình hộp, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc và có hình pháo hoa và các dòng chữ nước ngoài có tổng khối lượng 27,5 kg (là pháo nổ được hoàn lại sau giám định); 01 (Một) thùng giấy màu vàng kích thước (38x30x24) cm; 01(Một) miếng xốp màu trắng kích thước (37x30) cm; 01 (Một) thùng xốp màu vàng – xanh – đỏ kích thước (59x44x37)cm; 02 (Hai) bao nylon màu vàng kích thước (72x33); 01(Một) màn hình ti vi loại LG, màu đen, kích thước (44x27) cm (đã hỏng); 01 (một) cuộn băng keo trong (đã qua sử dụng); 01 (một) cây bút lông màu xanh (đã qua sử dụng).
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A1 màu đen, bên trong gắn sim điện thoại số 09453412xx và sim điện thoại số 03330718xx; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu xanh, bên trong điện thoại có gắn 01 sim số 09118952xx.
( Biên bản giao nhận vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện LN)
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Các bị cáo Phạm Đinh Văn T, Huỳnh Hồng S, Hà Duy A, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Bản án về tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm số 58/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 58/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Lộc Ninh - Bình Phước |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 22/08/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về