TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐỒNG NAI
BẢN ÁN 148/2021/HS-ST NGÀY 03/12/2021 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP VŨ KHÍ QUÂN DỤNG
Ngày 03 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 126/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2021; Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 563/TB-TA ngày 26/7/2021 và Thông báo về thời gian mở lại phiên tòa số 127/TB-TA ngày 20/10/2021; Thông báo về việc dời lịch xét xử số: 170/TB-TA ngày 09/11/2021 đối với bị cáo:
Phạm Thảo V (tên gọi khác: C), sinh năm1991 tại tỉnh Quảng Bình. Nơi cư trú: Tổ dân phố 6, thị trấn N, huyện L, tỉnh Quảng Bình; chỗ ở hiện nay: Ấp 1, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông (không rõ nhân thân) và bà Phạm Thị Ng; chung sống như vợ chồng với Quảng Thị T, sinh năm 1995 và có 03 con chung: lớn sinh năm 2015 và nhỏ sinh năm 2020; tiền sự: Không; tiền án: Không.
Nhân thân: Ngày 20/9/2007, bị cáo bị Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng với thời hạn 12 tháng. Đến ngày 28/6/2008, bị cáo V chấp hành xong.
+ Ngày 30/9/2010, bị Tòa án nhân dân huyện N xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 tại Bản án số: 86/2010/HSST ngày 30/8/2010. Đến ngày 30/4/2011, bị cáo V chấp hành xong Bản án.
+ Ngày 14/6/2021, bị Tòa án nhân dân huyện N xử phạt 01 năm 10 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017. Hiện đang chấp hành án theo Quyết định thi hành án phạt tù số 141 ngày 16/7/2021 của Tòa án nhân dân huyện N.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Thảo V là người nghiện ma túy. Vào khoảng tháng 8 năm 2020, V đi uống rượu cùng bạn bè bên lề đường khu vòng xoay thuộc khu vực cổng sau Khu công nghiệp N 6, thì phát hiện có 03 người phụ nữ (không rõ họ tên, địa chỉ) đang nhặt 12 viên đạn trên nền đất bỏ vào một túi nilong màu đen, sau đó bọc thêm một túy nilong màu trắng đưa cho V cất giữ. V mang túi nilong chứa 12 viên đạn cất vào thùng giấy và cất trên gác tại phòng trọ của V ở ấp 1, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Ngày 02/12/2020, V đi mua ma túy về phòng trọ cùng Trần Văn T (là bạn của V), sinh năm 1992, hộ khẩu thường trú: Xóm Quang Trung, xã Long Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An sử dụng. Khoảng 22 giờ ngày 02/12/2020, Công an xã L, huyện N kiểm tra hành chính phòng trọ nơi V ở thì phát hiện, bắt quả tang V, T có hành vi “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và thu giữ 12 viên đạn là vũ khí quân dụng tại phòng trọ của V, đồng thời chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N thụ lý theo thẩm quyền.
Tại Bản kết luận giám định số 6324/C09B ngày 14/12/2020 Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 12 viên đạn gửi giám định là đạn chưa bắn (đã bị mài mòn kí hiệu) thuộc loại đạn cỡ 7.62mm x 39 mm, dùng cho các loại sung quân dụng như: AK, CKC, RPD. 12 (mười hai) viên đạn trên là vũ khí quân dụng.
Biên bản bắt người phạm tội quả tang tại bút lục 40->42.
- Tang vật thu giữ gồm: 12 (mười hai) viên đạn là vũ khí quân dụng (đã bị mài mòn kí hiệu) thuộc loại đạn cỡ 7.62mm x 39 mm hiện đã chuyển về phòng kỹ thuật Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đồng Nai theo Quyết định số 44/QĐ-BCH ngày 02/7/0021 của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đồng Nai.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
Bản cáo trạng số 3984/CT-VKS-P1 ngày 30/6/2021, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Phạm Thảo V về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng ” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N giữ quyền công tố tại phiên tòa, giữ nguyên bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố đối với bị cáo về hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt: Bị cáo Phạm Thảo V từ 01 năm 04 tháng tù đến 01 năm 10 tháng tù. Đề nghị Tòa án tổng hợp hình phạt theo quy định của pháp luật.
+ Về biện pháp tư pháp: Căn cứ các Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị Tòa tuyên tịch thu chuyển Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đồng Nai quản lý 12 viên đạn.
Đối với ba người phụ nữ (không rõ họ tên, địa chỉ) là người đưa 12 viên đạn cho V, cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đồng Nai tiếp tục xác minh làm rõ, sẽ đề nghị xử lý sau.
Đối với hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của Phạm Thảo V, cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện N đã tách ra xử lý trong một vụ án khác.
Sau khi nghe xong bản luận tội, bị cáo V không có ý kiến hay tranh luận gì đối với bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N.
Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo có hai con còn nhỏ, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Đồng Nai, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo V không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo V thừa nhận có hành vi tàng trữ 12 viên đạn là vũ khí quân dụng tại phòng trọ của V ở ấp 1, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai, đến ngày 02/12/2020 thì bị Công an xã L kiểm tra hành chính và bắt quả tang. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý vũ khí quân dụng của Nhà nước, hành vi của bị cáo tiềm ẩn nguy cơ, điều kiện thuận lợi phát sinh các hành vi phạm tội khác; gây mất ổn định về trật tự an toàn xã hội, xâm hại đến an ninh quốc gia. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi, bất chấp hậu quả xảy ra, thể hiện sự xem thường pháp luật của các bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51. Ngoài ra, bị cáo V có bà ngoại là người có công với cách mạng, được Nhà nước trao tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì do chủ tịch nước Lê Đức Anh ký, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[6] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, vật chứng gồm : 12 (mười hai) viên đạn là vũ khí quân dụng (đã bị mài mòn kí hiệu) thuộc loại đạn cỡ 7.62mm x 39 mm hiện đã chuyển về phòng kỹ thuật Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đồng Nai theo Quyết định số 44/QĐ-BCH ngày 02/7/0021 của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đồng Nai xử lý theo quy định là phù hợp.
[ 7] Đối với ba người phụ nữ (không rõ họ tên, địa chỉ) là người đưa 12 viên đạn cho V, cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đồng Nai tiếp tục xác minh làm rõ, sẽ đề nghị xử lý sau.
[8] Đối với hành vi “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” của Phạm Thảo V, cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện N đã tách ra xử lý trong một vụ án khác.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo V phải chịu là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng khoản 1 Điều 304; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thảo V phạm tội “ Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Thảo V 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù.
Tổng hợp hình phạt với mức án 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù tại Bản án số 83/2021/HS-ST ngày 14-6-2021 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai, buộc bị cáo V phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 (ba) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 03/12/2020.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; 47 Bộ luật hình sự năm 2015, đã sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đồng Nai 12 viên đạn là vũ khí quân dụng (đã bị mài mòn kí hiệu) thuộc loại đạn cỡ 7.62mm x 39 mm để xử lý theo quy định pháp luật.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Đồng Nai và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đồng Nai lập ngày 02/7/2021) 3. Về án phí: Bị cáo Phạm Thảo V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng số 148/2021/HS-ST
| Số hiệu: | 148/2021/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Nhơn Trạch - Đồng Nai |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 03/12/2021 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về