Bản án về tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng số 05/2024/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 05/2024/HS-PT NGÀY 04/01/2024 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP VŨ KHÍ QUÂN DỤNG

Ngày 04 tháng 01 năm 2023, tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xét xử phúc thẩm, trực T3 công khai, vụ án Hình sự thụ lý số 1079/2023/TLPT-HS ngày 05 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Đỗ Quang Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 74/2023/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

* Bị cáo có kháng cáo:

Đỗ Quang Đ, sinh năm 1983; đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Thôn ĐN, xã NS, huyện H, tỉnh Bắc Giang; nơi ở: Tổ dân phố HT, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa lớp: 2/12; con ông Đỗ Quang T1 (đã chết) và bà Hoàng Thị T2 sinh năm 1952; có vợ là Trần Thị T3 sinh năm 1988 và có 03 con (lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2020); không có tiền án; tiền sự:

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 109 ngày 25/6/2015, Công an huyện H xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép ma tuý”.

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 45 ngày 29/3/2016, Công an huyện H xử phạt 01 triệu đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 82 ngày 13/4/2015, Công an huyện H xử phạt 1,5 triệu đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong ngày 18/5/2015.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Yên Bái. (theo Quyết định gia hạn tạm giam lần thứ nhất của Viện KSND tỉnh Yên Bái); có mặt tại điểm cầu Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 20 phút ngày 27/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái khám xét chỗ ở của Đỗ Quang Đ, sinh 1983, ở tổ dân phố HT, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang, thu giữ nhiều vật chứng nghi là ma tuý. Ngoài ra, còn thu giữ tại ngăn dưới cùng tủ kim loại trong phòng ngủ phía bên phải hướng đi xuống bếp có: 01 (một) khẩu súng, kiểu côn xoay màu đen, trên nòng súng có chữ “ZOKAKI R1 - TD 2.5”; 01 túi đeo giả da màu đen, bên trong có 01 khẩu súng kiểu côn xoay màu nâu- đen, có in chìm chữ “USA” và nhiều viên đạn có kích cỡ, kiểu dáng khác nhau.

Quá trình điều tra, Đỗ Quang Đ khai nhận về diễn biến hành vi phạm tội như sau:

Khoảng tháng 6/2022, Đỗ Quang Đ đi từ huyện H đến thành phố Bắc Giang, khi đi đến khu vực đường nối vào đường cao tốc Hà Nội - Bắc Giang thuộc thôn NN, xã QC, huyện VY, tỉnh Bắc Giang, Đ nhìn thấy ở ven đường có 01 túi da màu đen, Đ nhặt lên, thấy bên trong túi có súng và một số viên đạn. Đ cầm mang về nhà rồi cất vào tủ quần áo trong phòng ngủ của bà Hoàng Thị T2, sinh năm 1952 là mẹ đẻ của Đ. Vài ngày sau, Đ bỏ ra kiểm tra thì thấy bên trong túi da có 02 khẩu súng ổ xoay, có đầy đủ các bộ phận nòng súng, cò súng, búa đạp, ổ xoay để lắp đạn, đều dùng được và nhiều viên đạn có kích thước khác nhau. Kiểm tra xong, Đ cho 02 khẩu súng và số đạn vào chiếc túi da màu đen và để lại ngăn tủ trong phòng ngủ của bà Hoàng Thị T2. Sau khi nhặt được 02 khẩu súng, Đ vào mạng Internet kiểm tra thì được biết khẩu súng có ký hiệu “USA” là vũ khí quân dụng, khẩu súng còn lại là súng thể thao, nên Đ cất giấu ở nhà và thỉnh thoảng bỏ ra lau chùi, khi Đ lau chùi súng có chị Trần Thị T3, sinh năm 1988 là vợ của T3 nhìn thấy, nhưng Đ không nói cho T3 biết đó là súng gì. Đến ngày 27/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái khám xét đã thu giữ 02 khẩu súng và số đạn này.

Kết luận giám định số 9096/KL-KTHS ngày 28/12/2022 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an kết luận:

- Khẩu súng có ký hiệu “USA” gửi giám định là súng ổ quay cỡ nòng 5,6mm, thuộc vũ khí quân dụng. Hiện tại còn sử dụng để bắn được;

- Khẩu súng có ký hiệu “ZOKAKI R1 - TD 2.5” gửi giám định là súng ổ quay cỡ nòng 9mm bắn đạn đầu cao su, hơi cay, thuộc công cụ hỗ trợ, không phải vũ khí quân dụng. Hiện tại còn sử dụng để bắn được;

- 172 viên đạn ký hiệu “C” gửi giám định là đạn thể thao cỡ 5,6x15,5mm, thuộc vũ khí thể thao, không phải vũ khí quân dụng. Hiện tại còn sử dụng để bắn được và lắp bắn được cho khẩu súng ký hiệu “USA” nêu trên;

- 42 viên đạn có cùng chiều dài 22,5mm gửi giám định là đạn đầu cao su cỡ 9mm, thuộc công cụ hỗ trợ, không phải vũ khí quân dụng. Hiện tại còn sử dụng để bắn được và lắp bắn được cho khẩu súng ký hiệu “ZOKAKI R1 - TD 2.5”;

- 14 viên đạn có ký hiệu “SÔNG THAO” gửi giám định là đạn ghém cỡ 12, không thuộc vũ khí quân dụng. Hiện tại còn sử dụng để bắn được. (bút lục số 69) Ngày 06/3/2023, Viện KSND tỉnh Yên Bái đã ra Quyết định chuyển vụ án hình sự về hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng của Đỗ Quang Đ đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Bắc Giang để điều tra theo thẩm quyền.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 74/2023/HS- ST ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Đỗ Quang Đ 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 27/12/2022. Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Đỗ Quang Đ 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 06 tháng 9 năm 2023, bị cáo Đ có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xin giảm hình phạt với lý do đã nộp tiền phạt 10.000.000 đồng theo quyết định phạt bổ sung của Tòa án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 74 Luật xử lý vi phạm hành chính thì 2 quyết định xử phạt vi phạm hành chính bị cáo chưa thi hành nên cần xác định bị cáo có 2 tiền sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Mức án 02 năm tù là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

Mặc dù tại phiên tòa bị cáo trình bày đã nhờ gia đình nộp tiền phạt 10 triệu đồng tuy nhiên bị cáo không xuất trình được biên lai thu tiền thể hiện đã nộp khoản tiền này và dù có nộp phạt 10 triệu đồng nhưng mức án 02 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo, do đó không có căn cứ giảm án cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Kháng cáo của bị cáo hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo trình bày có mời luật sư bào chữa cho mình, tuy nhiên, Hội đồng xét xử không nhận được thủ tục bào chữa của luật sư trong vụ án này; bị cáo bị xét xử theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự, do đó Hội đồng xét vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà bị cáo Đỗ Quang Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 12 giờ 20 phút ngày 27/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái khám xét chỗ ở của Đỗ Quang Đ, sinh 1983, ở tổ dân phố HT, thị trấn Thắng, huyện H, tỉnh Bắc Giang, phát hiện và thu giữ tại tại ngăn dưới cùng tủ kim loại trong phòng ngủ phía bên phải, hướng đi xuống bếp nhà ở của Đ 01 khẩu súng ổ quay cỡ nòng 5,6mm, có ký hiệu “USA”, thuộc vũ khí quân dụng do Đ cất giấu, tàng trữ. Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 304 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo Đỗ Quang Đ là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào trật tự, an toàn xã hội, các quy định độc quyền của nhà nước về quản lý vũ khí quân dụng, đe dọa đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Xét kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo:

Quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tòa án cấp sơ thẩm đã cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo không có tiền sự là chưa chính xác, bởi lẽ: Bị cáo chưa thi hành hai quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 109/QĐ ngày 25/6/2015 và quyết định số 45/QĐ ngày 29/3/2016 của Công huyện H, tỉnh Bắc Giang mặc dù Công an huyện H, tỉnh Bắc Giang đã có công văn số 324/CAHH ngày 24/7/2015 và công văn số 57/CAHH ngày 20/4/2016 về việc đôn đốc thực hiện Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nên cần phải coi bị cáo đã cố tình trốn tránh, trì hoãn thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 74 Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính vẫn còn.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo xin giảm hình phạt với lý do gia đình đã nộp khoản tiền phạt bổ sung 10.000.000 đồng tuy nhiên không có biên lai, chứng từ, tài liệu chứng minh cho việc bị cáo đã thi hành khoản tiền phạt bổ sung. Mặt khác, căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân của bị cáo như phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy mức án 02 năm tù đối với bị cáo là phù hợp, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Quang Đ, giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2023/HSST ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang về phần hình phạt đối với bị cáo Đỗ Quang Đ, cụ thể:

1. Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Đỗ Quang Đ 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 27/12/2022. Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Đỗ Quang Đ 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

2. Án phí: Bị cáo Đỗ Quang Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của ản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

68
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng số 05/2024/HS-PT

Số hiệu:05/2024/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 04/01/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về