TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
BẢN ÁN 37/2024/HS-ST NGÀY 11/06/2024 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP VẬT LIỆU NỔ
Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn T; sinh ngày 23 tháng 5 năm 1990 tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Nông dân; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Tiến N (sinh năm 1969) và bà Hoàng Thị H (sinh năm 1970); vợ: Hứa Thị H1, sinh năm 1997; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPHC ngày 05/12/2013 của Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn xử phạt số tiền 3.500.000 đồng về hành vi gây thiệt hại đến tài sản của người khác, đã thi hành xong ngày 06/12/2013, chưa bị kết án, chưa bị xử lý kỷ luật; bị tạm giữ ngày 23/02/2024, tạm giảm ngày 29/02/2024 đến nay. Có mặt.
- Người làm chứng: Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1970. Vắng mặt.
- Người chứng kiến: Ông Lăng Chí T1, sinh năm 1963. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 01 năm 2024, Trần Văn T đi câu cá tại suối thuộc thôn N, xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn thì gặp một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) hỏi Trần Văn T có mua thuốc nổ để đánh cá không. Trần Văn T đồng ý mua. Khoảng 30 phút sau, người đàn ông quay lại mang theo 01 túi nilon màu trắng, bên trong có thuốc nổ, kíp nổ gồm 03 khối thể rắn màu nâu, không xác định hình dạng; 04 ống kim loại gắn dây dẫn điện; 01 khối trụ tròn có in chữ “TNT:15g VIỆN TPTN”. Sau đó, Trần Văn T đưa 1.000.000 đồng cho người đàn ông và mang túi nilon trên về nhà. Khi về đến nhà, do sợ để chung kíp nổ và thuốc nổ sẽ gây nổ nên Trần Văn T lấy kíp nổ ra cất lên nóc tủ quần áo tại phòng khách; 03 khối thể rắn vẫn để trong túi nilon màu trắng, cất vào ô gạch trên tường trong bếp. Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 23/02/2024, Công an huyện V kiểm tra nơi cư trú, thu giữ toàn bộ vật chứng nêu trên.
Tại Kết luận giám định số 1360/KL-KTHS ngày 26/02/2024 của V Bô C kết luận: 03 khối thể rắn, màu nâu, hình không xác định và 01 khối hình trụ tròn đường kính 02 cm, chiều cao 03 cm, bên ngoài có in chữ “TNT:15g VIÊN TPTN” gửi giám định đều là thuốc nổ TNT (Trinitrotoluen). Tổng khối lượng thuốc nổ TNT là 935 gam. Thuốc nổ TNT thường được nhồi vào các đầu đạn, bom, min…; 04 ống kim loại có kích thước khác nhau gửi giám định đều là kíp nổ điện vỏ nhôm. Kíp nổ có tác dụng kích nổ thuốc nổ. Số thuốc nổ và kíp nổ trên đều thuộc vật liệu nổ và đều còn sử dụng được. Các vật chứng của vụ án (trừ 01 túi nilon trắng) đã được sử dụng hết để thực hiện giám định, không hoàn lại.
Tại cơ quan điều tra, người chứng kiến khai được chứng kiến Công an huyện V khám xét nơi ở, niêm phong tài liệu, đồ vật, xác định khối lượng tang vật và lập các biên bản theo đúng quy định. Người làm chứng bà Hoàng Thị H trình bày, bà là mẹ của bị cáo Trần Văn T và sống cùng nhà với bị cáo; việc Trần Văn T mua thuốc nổ, kíp nổ và tàng trữ ở trong nhà bà không biết.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung nêu trên.
Tại Cáo trạng số 58/CT-VKSLS-P2 ngày 09/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ” theo quy định tại khoản 1 Điều 305 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 305; Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép vật liệu nổ. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền do bị cáo làm ruộng, không có thu nhập ổn định. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, đề nghị tiêu hủy túi nilon màu trắng. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2. Người làm chứng, người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đầy đủ lời khai trong quá trình điều tra. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc xét xử, giải quyết vụ án nên căn cứ khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
3. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, phù hợp với các vật chứng đã thu giữ được và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ căn cứ kết luận: Khoảng đầu tháng 01 năm 2024, Trần Văn T đã có hành vi mua 1.000.000 đồng tiền thuốc nổ và kíp nổ với một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) và mang về nhà cất giấu, mục đích sử dụng để đánh cá. Ngày 23/02/2024, Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn phát hiện bị cáo Trần Văn T có hành vi tàng trữ thuốc nổ TNT và 04 kíp nổ điện vỏ nhôm tại nhà. Qua giám định xác định tổng khối lượng thuốc nổ mà Trần Văn T tàng trữ là 935 gam. Theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ thì thuốc nổ, kíp nổ là vật liệu nổ. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Trần Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép vật liệu nổ theo quy định tại khoản 1 Điều 305 của Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến an toàn công cộng và vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng vật liệu nổ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng cố ý thực hiện.
4. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
5. Về nhân thân: Bị cáo chưa từng bị kết án; chưa bị xử lý kỷ luật; đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây thiệt hại đến tài sản của người khác, mặc dù đã quá thời hạn được coi là bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng đánh giá bị cáo là người có nhân thân không tốt.
6. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là nông dân, thu nhập không ổn định, không sở hữu tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
7. Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp nên được chấp nhận.
8. Đối với người đàn ông bán số thuốc nổ, kíp nổ cho bị cáo Trần Văn T, do không rõ tên, tuổi, địa chỉ, không có cơ sở để điều tra làm rõ nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.
9. Về xử lý vật chứng: 01 (một) túi nilon là vật chứng không có giá trị, không sử dụng được nên tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
10. Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
11. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 305; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 293; khoản 1 Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép vật liệu nổ.
2. Về hình phạt Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 23/02/2024).
3. Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) túi nilon màu trắng, cũ đã qua sử dụng.
(Hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/5/2024 giữa Điều tra viên Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh L và Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn).
4. Án phí: Bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (11/6/2024).
Bản án về tội tàng trữ trái phép vật liệu nổ số 37/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 37/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Văn Lãng - Lạng Sơn |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 11/06/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về