Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 99/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 99/2023/HS-ST NGÀY 06/12/2023 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 97/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Hoàng Văn T, sinh ngày 01 tháng 8 năm 1988 tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Tổ E, khối F, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Mạnh H và bà Đinh Thị B; vợ, con: Chưa có; tiền án: Có 01 tiền án: Tại bản án số: 57/2015/HS-ST ngày 15/9/2015 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo 07 (bẩy) năm tù về Tội mua bán trái phép chất ma túy, ngày 16/12/2020 mới chấp hành xong hình phạt, (chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27/8/2004, bị cáo bị Ủy ban nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đưa vào trường giáo dưỡng 24 tháng, theo Quyết định số: 575/QĐ-UB đã chấp hành xong (đã được xóa tiền sự) và tại bản án số: 29/2008/HS-ST ngày 18/3/2008 của Tòa án nhân thành phố Lang Sơn, tỉnh Lạng Sơn, xử phạt bị cáo 12 (mười hai) tháng tù giam về Tội trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong hình phạt tù, (đã được xóa án tích); bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/8/2023, tạm giam từ ngày 20/8/2023 đến nay; có mặt.

- Người chứng kiến: Anh Lý Văn L; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ, ngày 17/8/2023, Tổ công tác Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đang làm nhiệm vụ tại khối X, thị trấn C, huyện C, phát hiện Hoàng Văn T, có biểu hiện nghi vấn hoạt đông tội phạm. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra, phát hiện trong miệng của Hoàng Văn T có 01 (một) gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong đựng chất bột màu trắng nghi là chất ma túy. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong thu giữ vật chứng gồm: 01 (một) gói giấy màu trắng có dòng kẻ bên trong đựng chất bột màu trắng; 01 (một) căn cước công dân mang tên Hoàng Văn T.

Tại bản kết luận giám định số: 857/KL-KTHS ngày 20/8/2023 Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,150 gam (đã trừ bì).

Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Văn T khai nhận: Bản thân Hoàng Văn T nghiện ma túy từ năm 2011 đến nay. Thông qua những người nghiện ma túy mách bảo, Hoàng Văn T biết được ở khu vực T thuộc thành phố L, tỉnh Lạng Sơn có những người lái xe ôm bán ma túy Heroine. Khoảng 09 giờ ngày 17/8/2023, Hoàng Văn T đi bộ từ nhà đến khu vực T thuộc thành phố L, tỉnh Lạng Sơn tìm mua ma túy, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tại đây, Hoàng Văn T gặp một người lái xe ôm không rõ họ tên, địa chỉ và hỏi mua 200.000 (hai trăm nghìn đồng) ma túy Heroine, được người ngày đưa cho 01 (một) gói ma túy Heroine. Sau khi mua được ma túy, Hoàng Văn T đi về nhà, khi đi đến khu vực ngã tư đường B thuộc khối X, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng Công an huyện Cao Lộc bắt quả tang.

Cáo trạng số: 90/CT-VKS ngày 30 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hoàng Văn T về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Hoàng Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn trình bày luận tội, phân tích tính chất mức độ, nguyên nhân, động cơ, mục đích, phạm tội của bị cáo, xác định các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự áp đối với bị cáo. Khẳng định, Cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 - xử phạt bị cáo mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Hoàng Văn T không có nghề nghiệp ổn định, là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng có giá trị, nên đề nghị không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị:

Tịch thu, tiêu hủy số ma túy đã qua giám định còn lại là 0,131 gam Heroine được đựng trong 01 (một) phong bì ghi chữ "QUẢ TANG HOÀNG VĂN T" (cũ), có chữ ký cùng tên của Giám định viên Hoàng Đình Chiến, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành.

Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn T 01 (một) căn cước công dân số: 02008X493 mang tên Hoàng Văn T.

Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Hoàng Văn T nhất trí với nội dung bản Luận tội không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thấy lỗi lầm của bản thân, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng, giải thích hướng dẫn bị cáo về quyền tiếp cận trợ giúp pháp lý, quyền nhờ người bào chữa theo quy định. Các quyết định, hành vi tố tụng đã được thực hiện là hợp pháp. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng.

[3] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người chứng kiến anh Lý Văn L. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của anh Lý Văn L. Xét thấy, việc vắng mặt của anh Lý Văn L không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.

[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ căn cứ xác định: Hồi 10 giờ, ngày 17/8/2023, Tổ công tác Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đang làm nhiệm vụ tại khối X, thị trấn C, huyện C, phát hiện bắt quả tang bị cáo Hoàng Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong miệng của bị cáo 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong đựng 0,150 gam chất ma túy Heroine, bị cáo khai nhận mua gói ma túy trên mục đích sử dụng cho bản thân. Với hành vi trên, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hoàng Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng, khi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, có đủ khả năng để nhận thức hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật vì bị cáo đã bị xét xử về tội mua bán trái phép chất ma túy, nhưng do bị cáo nghiện chất ma túy nên vẫn cố ý thực hiện. Chúng ta đều biết ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm do Nhà nước độc quyền quản lý, ma túy gây tổn hại về mặt kinh tế của gia đình và bản thân người sử dụng, gây hủy hoại sức khỏe của con người. Ma túy là nguyên nhân phát sinh, gia tăng nhiều loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, gây mất trật tự, an ninh chính trị tại địa phương, gây nỗi bất bình trong quần chúng nhân dân. Hiện nay, việc đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy đang là nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội. Chính vì vậy, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh đúng theo pháp luật nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Để quyết định mức án phù hợp ngoài việc xem xét về hành vi phạm tội nêu trên. Hội đồng xét xử còn xem xét, đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo như sau:

[6] Về nhân thân: Bị cáo đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đã 02 lần bị kết án, nên bị cáo là người có nhân thân xấu.

[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án số: 57/2015/HS- ST, ngày 15/9/2015 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo 07 (bẩy) năm tù giam về Tội mua bán trái phép chất ma túy, ngày 16/12/2020 mới chấp hành xong hình phạt (chưa được xóa án tích) lần phạm tội này được coi là tái phạm, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

[9] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng". Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo là người lao động tự do, thu nhập không ổn định, bị cáo không có tài sản gì riêng có giá trị và là người nghiện ma túy. Nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[10] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử thấy: Đối với số ma túy đã qua giám định còn lại là 0,131 gam Heroine được đựng trong 01 (một) phong bì ghi chữ "QUẢ TANG HOÀNG VĂN T" (cũ), có chữ ký cùng tên của Giám định viên Hoàng Đình Chiến, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; cần tịch thu, tiêu hủy; đối với 01 (một) căn cước công dân số: 02008X493 mang tên Hoàng Văn T là giấy tờ tùy thân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội. Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn T.

[11] Đối với người đàn ông bán ma túy cho Hoàng Văn T tại khu vực T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, do bị cáo không biết rõ họ, tên, địa chỉ của người này. Ngoài lời khai của bị cáo, không còn tài liệu nào khác, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc không đủ cơ sở để điều tra, xác minh làm rõ. Hội đồng xét xử không xem xét.

[12] Đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc tại phiên tòa về mức hình phạt của bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[13] Về án phí: Bị cáo bị kết án, nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nhìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[14] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điểu 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 293; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt:

2.1. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 17/8/2023.

3. Về xử lý vật chứng:

3.1. Tịch thu, tiêu hủy số ma túy đã qua giám định còn lại là 0,131 gam Heroine được đựng trong 01 (một) phong bì ghi chữ "QUẢ TANG HOÀNG VĂN T" (cũ), có chữ ký cùng tên của Giám định viên Hoàng Đình Chiến, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới.

3.2. Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn T 01 (một) căn cước công dân số: 02008X493 mang tên Hoàng Văn T.

(Vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn và được ghi chi tiết tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/10/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc và Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn).

4. Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

33
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 99/2023/HS-ST

Số hiệu:99/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cao Lộc - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 06/12/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về