Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 97/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 97/2024/HS-ST NGÀY 30/09/2024 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

 Ngày 30 tháng 9 năm 2024, Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 86/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Minh D, sinh ngày 05/12/1998 tại tỉnh An Giang; Nơi cư trú: ấp VP, xã VH, huyện CT, tỉnh AG; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; G iới tính: Nam; Tôn giáo : Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Thanh N, sinh năm 1970 và bà Lê Kim H, s inh năm 1971; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/5/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên G iang (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Luật sư bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Kim S, sinh năm 1987- Văn phòng Luật sư Phạm Văn cần thuộc đoàn Luật sư tỉnh Kiên Giang (có mặt) Người tham gia tố tụng khác : Anh Đào Công L, là người làm chứng (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào trưa ngày 17 tháng 5 năm 2024, Lê Minh D liên lạc cho một đối tượng trên facebook có tên “Trung Trung” (không rõ nhân thân, lai lịch) và được giới thiệu đến một người đàn ông ở huyện T ịnh Biên, tỉnh An Giang (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) để mua ma tuý về sử dụng. Sau khi liên lạc hỏi mua ma tuý, D điều khiển xe mô tô biển đăng ký số 52M8 - xxxx đến địa điểm trên gặp người đàn ông và mua ma tuý của người này với số tiền 3.000.000 đồng. Sau khi giao tiền xong D nhận về 01 bịch ma tuý (loại ma tuý đá) được để trong bịch nylon màu đen, D lấy b ịch ma tuý để vào túi áo khoác rồi điều khiển xe mô tô đi về tỉnh Kiên G iang. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày khi D đi đến nhà trọ “Chín Triều” tại ấp An Phước, xã Bình An, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên G iang thuê phòng trọ nghỉ thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện và thu giữ: 01hộp nhựa có kích thước 09 x 6,5 x 3,8 cm, có nắp đậy, được dán băng keo màu đen, bên trong hộp nhựa có 01 ống hút nhựa màu trắng dài 15,5cm; 01 ống thuỷ tinh dài 8,5cm, có 01 đầu hình cầu, không xác định hình D; 01 lọ thuỷ tinh dài 4,8 x 2,3 cm; 01 bình thuỷ tinh không xác định hình D, kích thước 03cm; 01 hộp quẹt gas dài 5,8cm, đã qua sử dụng; 01 khố i nhựa không rõ hình D dài 3,7cm; 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh dài 3,3cm; 01 mãnh giấy bạc; 01 bịch nylon màu đen được cuộn cố định bằng băng keo trong, kích thước 10 x 05 x 4,5 cm, bên trong chứa 01 bịch nylon trong suốt, hàn kín có rãnh cài viền màu trắng, kích thước 14,5 x 8,7 cm, bên trong chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng, D rắn không đồng nhất nghi là chất ma tuý; 01 xe mô tô loại Dream, biển đăng ký số 52M8 – xxxx, đã qua sử dụng.

Tại bản Kết luận giám đ ịnh số:472/KL-KTHS ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên G iang kết luận:Nhiều hạt tinh thể D rắn, màu trắng chứa trong 01b ịch nylon trong suốt, hàn kín, có rãnh gài viền trắng kích thước 14,5cm x 8,7cm được niêm phong gửi giám đ ịnh là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khố i lượng mẫu gửi giám đ ịnh là 99,5950 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CĐ, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số:94/CT-VKS-CT ngày 27/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Lê Minh D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại d iện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Minh D phạm tộ i: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị Hộ i đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt b ị cáo Lê Minh D từ 10 năm đến 11 nămtù.

Về biện pháp tư pháp đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên xử tịch thu tiêu hủy các vật chứng đã thu giữ trong vụ án.

Bị cáokhông có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tộ i của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.

Luật sư bào chữa cho bị cáo bà Nguyễn Thị Kim S có ý kiến tranh luận như sau: Luật sư hoàn toàn thống nhất với quan điểm của VKS về việc truy tố bị cáo vềtội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại đ iểm b khoản 3 Đ iều 249 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, Luật sư mong HĐXX xem xét trong quá trình đ iều tra, truy tố và xét xử bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hố i cải; nhân thân b ị cáo tốt không có tiền án, tiền sự; Phạm tội lần đầu; Bản thân bị cáo là quân nhân xuất ngũ, được tặng thưởng nhiều giấy khen; cha mẹ bị cáo ly hôn, bị cáo là lao động chính trong gia đình phải chăm sóc bà Nội không còn khả năng lao động. Do đó, đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại đ iểm s khoản1, khoản2 Đ iều 51 Bộ luật hình sự, xem xét xử phạt bị cáo mức án thấp để bị cáo sửa đổi bản thân và sớm về với gia đình.

Bị cáo thống nhất với lời bào chữa của Luật sư và không bổ sung gì thêm.

Bị cáo được nói lời sau cùng, bị cáo xin Hộ i đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết đ ịnh tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tộ i, lời khai của bị cáo phù hợp với người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu cũng như kết quả điều tra của Cơ quan điều tra và bản Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, thể hiện: Vào khoảng 21 giờ, ngày 17/5/2024 tại nhà trọ “Chín Triều” thuộc ấp An Phước, xã Bình An, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang lực lượng Công an huyện Châu Thành bắt quả tang về việc Lê Minh D đang tàng trữ trên người 99, 5950 gam ma tuý loại Methamphetamine nên tiến hành lập biên bản. Đối chiếu theo quy định pháp luật thì hành vi của bị cáo Lê Minh D đã đủ yếu tố cấu thành tộ i “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại đ iểm b khoản 3 Đ iều 249 Bộ luật hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của b ị cáo là nguy hiểm cho xã hộ i, không những vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ. Bị cáo đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì nghiện và để có ma tuý sử dụng lâu dài bị cáo lén tìm mua 99,5950 gam ma tuý loại Methamphetamine để tàng trữ sử dụng thì bị phát hiện. Bị cáo phạm tội với lỗ i cố ý trực tiếp và số lượng ma tuý b ị cáo tàng trữ lớn nên hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:

4.1 Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng được quy định tại Đ iều 52 Bộ luật hình sự.

4.2 Xét về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo là người có nhân thân tốt không có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu; Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hố i cải; b ị cáo là quân nhân xuất ngũ có nhiều thành tích xuất sắc được tặng nhiều giấy khen nên cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét hình phạt khi lượng hình nhằm tạo điều kiện cho bị cáo sữa đổi bản thân làm lại cuộc đời, sống có ích cho xã hội.

[5] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ đúng pháp luật nên HĐXX ghi nhận để xem xét.

[6] Xét đề nghị của bà Nguyễn Thị Kim S - Văn phòng Luật sư Phạm Văn cần thuộc đoàn Luật sư tỉnh Kiên Giang bào chữa cho bị cáo là có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhận.

[7] Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng:

7.1 Đối với các vật chứng thu giữ trong vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần xử tịch thu tiêu huỷ theo quy định pháp luật.

7.2 Đối với 01 áo khoác màu đen có chữ “Black Scale”, đã qua sử dụng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Knight, loại Dream, b iển đăng ký số 52M8 – xxxx, số máy LC150FMG0220780, số khung LCD100200130525, đã qua s ử dụng không liên quan đến vụ án. Trong quá trình đ iều tra Cơ quan cảnh sát đ iều tra Công an huyện Châu Thành đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu. Xét thấy việc trao trả các tài sản trên là đúng theo quy định pháp luật nên HĐXX không xem xét.

[8] Về những vấn đề khác : Đối với đối tượng có tên “Trung Trung” trên mạng xã hộ i facebook và người đàn ông bán ma tuý cho D quá trình đ iều tra chưa xác định được nhân thân lại lịch nên chưa thể xem xét trong vụ án này được. Do đó, đề nghị Cơ quan Cảnh sát đ iều tra tiếp tục đ iều tra, làm rõ nếu có căn cứ sẽ xử lý theo quy đ ịnh pháp luật.

[9] Về án phí: Xử buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 249;

điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Đ iều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Minh D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt: Xử phạt b ị cáo Lê Minh D, 10 (m ười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17/5/2024.

3. Về b iện pháp tư pháp áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Đ iều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử tịch thu tiêu hủy các vật chứng đã được thu giữ trong vụ án theo Quyết định chuyển giao vật chứng số: 68/QĐ-VKS-CT ngày 27/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Xử buộc bị cáo Lê Minh D phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo : Bị cáocó quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

108
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 97/2024/HS-ST

Số hiệu:97/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Kiên Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về