TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
BẢN ÁN 93/2020/HS-ST NGÀY 29/06/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Ngày 29 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 91/2020/HSST ngày 09/6/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2020/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Trung D, sinh năm 1992; tại tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên; giới tính: Nam; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hoá 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam, con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1968 và bà Ngô Thị Vân T, sinh năm 1971; vợ Trịnh Thị H sinh năm 2000, có 01 con sinh ngày 07/4/2020; tiền sự: Tại Quyết định số 01/QĐ-UBND ngày 21/5/2019 của Ủy ban nhân dân xã H áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường với thời hạn 03 tháng kể từ ngày 21/5/2019; tiền án Tại bản án hình sự sơ thẩm số 33/2016/HSST ngày 30/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Hào xử phạt Nguyễn Trung D 30 tháng tù kể từ ngày 24/02/2016 về tội mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo bị bắt ngày 26/2/2020, hiện tại đang tạm giam tại Trại giam số II, Công an Thành phố H có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bản thân Nguyễn Trung D là đối tượng nghiện chất ma túy. Ngày 23/02/2020, D gặp và mua của một người đàn ông không xác định được nhân thân tên là T ở khu vực thị trấn Trâu Quỳ, huyện G, Thành phố H 01 túi ma túy khoảng 70 gam ma túy đá, mục đích để sử dụng cho bản thân, tiền mua ma túy D chưa thanh toán cho T. Sau khi mua đuợc ma túy, D mang túi ma túy đá về nhà và có lấy một ít ma túy đá ra để sử dụng. D thấy chất lượng ma túy kém nên D sử dụng số điện thoại 097162xxxx gọi điện vào số thuê bao 092889xxxx của T để đổi số ma túy khác có chất lượng tốt hơn. Chiều tối ngày 25/2/2020, D có gọi điện cho T để đổi ma túy thì T hẹn gặp D ở khu vực thị trấn Trâu Quỳ,huyện G, Thành phố H. Sau đó, D để 01 túi đựng ma túy đá vào 01 hộp giấy hình chữ nhật có kích thước khoảng (3x10x20)cm. Ngoài ra, trong hộp giấy D còn để thêm 01 túi nilon màu trắng có kích thước khoảng 2,5x5 cm bên trong dính tinh thể màu trắng; 01 cóong thủy tinh và 02 ông hút nhựa màu xanh. D để hộp giấy hình chữ nhật trên vào trong hốc cửa ghế phụ bên phải của xe ôtô BKS: 89Axxxxx rồi điều khiển xe ôtô đi từ nhà ra đường QL1A thuộc huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên đón Nguyễn Trung K. Sau đó D điều khiển xe ôtô chở K đi lên khu vực thị trấn Trâu Quỳ để gặp T. Khi đến ngã tư thị trấn Trâu Quỳ thì D có gọi điện cho T thì T bảo D cứ đi vào trong cổng trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Khi đi đến khu vực đối diện số nhà 79, đường Trâu Quỳ, thị trấn Trâu Quỳ, huyện G thì D bị cơ quan Công an kiểm tra phát hiện bắt giữ cùng tang vật.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 hộp giấy màu trắng, nắp màu đen hình chữ nhật có kích thước (3x10x20)cm bên trong có: 01 cóong bằng thủy tinh; 02 ống hút bằng nhựa màu xanh dài 20cm; 01 túi nilong màu trắng kích thước (5x10)cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng kích thước (2,5x5)cm bên trong có dính tinh thể màu trắng.
- 01 hộp giấy hình chữ nhật bên trong có 01 túi nilon màu trắng đựng 70 ống hút nhựa màu trắng dài khoảng 20cm và 01 cân điện tử màu đen có in chữ Pocket Scale.
Ngoài ra công an thu giữ của Nguyễn Trung D:
- 01 điện thoại màn hình cảm ứng nhãn hiệu Oppo có sim card 035813xxxx và 035253xxxx.
- 01 điện thoại màn hình cảm ứng nhãn hiệu Xiaomi Redmi màu đen, có sim card 097162xxxx và 096333xxxx.
- 01 chiếc xe ô tô BKS 89A-xxxxx màu sơn bạc, nhãn hiệu Hyundai GRAND I10.
Tại kết luận giám định số 1664/KLGĐ-PC09 ngày 05/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố H, kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 72,448 gam;
01 túi nilông, 02 ống hút nhựa màu xanh, 01 cóongthủy tinh đều có dính ma túy loại Methamphetamine.
Tại kết luận giám định số 1673/KLGĐ-PC09 ngày 05/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố H, kết luận: 70 ống nhựa màu trắng bên trong 01 túi nilôngkhông phát hiện thấy chất ma túy; 01 cân điện tử màu đen có in chữ Pocket Scale có dính ma túy loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số: 87/CT-VKSGL ngày 09-6-2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện G đã truy tố Nguyễn Trung D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện G giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Hành vi của bị cáo Nguyễn Trung D đã đủ yếu tố cấu thành tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm bkhoản 3 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38; Điều 47, của BLHS và Điều 106 của BLTTHS.
- Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Trung D mức án từ 13 năm đến 13 năm 06 tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày bắt 26/02/2020.
- Về hình phạt bổ sung: Không.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 hộp giấy màu trắng, nắp màu đen hình chữ nhật có kích thước (3x10x20)cm bên trong có: 01 cóong bằng thủy tinh; 02 ống hút bằng nhựa màu xanh dài 20cm; 01 túi nilon màu trắng kích thước (5x10)cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng kích thước (2,5x5)cm bên trong có dính tinh thể màu trắng; 01 hộp giấy hình chữ nhật bên trong có 01 túi nilon màu trắng đựng 70 ống hút nhựa màu trắng dài khoảng 20cm và 01 cân điện tử màu đen có in chữ Pocket Scale.
Tịch thu xung công: 01điện thoại màn hình cảm ứng nhãn hiệu Xiaomi Redmi màu đen, có sim card 097162xxxx và 096333xxxx.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại màn hình cảm ứng nhãn hiệu Oppo có sim card 035813xxxx và 035253xxxx.
Nói lời sau cùng, bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn nhận tộivà không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, bản Kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của VKSND huyện G đã truy tố.
HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Hồi 01 giờ 20 phút ngày 26/02/2020, tại khu vực đối diện số nhà 79, đường Trâu Quỳ, thị trấn Trâu Quỳ, G, H, bị cáo Nguyễn Trung D đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy Methamphetamine có khối lượng 72,448 gam với mục đích để sử dụng thì bị cơ quan Công an kiểm tra bắt giữ cùng vật chứng.
[3] Hành vi của bị cáo Nguyễn Trung D đã có đủ yếu tố cấu thành tội:
“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[4] Viện Kiểm sát nhân dân huyện G đề nghị truy tốbị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã cố ý trực tiếp xâm phạm đếnsự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy được Bộ luật hình sự bảo vệ. Hiện nay ma túy là hiểm họa đối với con người, tác động xấu đến kinh tế, xã hội, an ninh trật tự, đạo đức, lối sống, văn hóa của con người. Bị cáo đã nhận thức được điều này nhưng vẫn ngang nhiên mua ma túy với mục đích để sử dụng là thể hiện sự coi thường đối với sức khỏe của chính mình, làm ảnh hưởng đến kinh tế của gia đình, cũng như có thể làm phát sinh loại tội phạm khác. Vì vậy cần phải được xử lý bằng một bản án hình sự của Nhà nước mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng cũng như trong việc đấu tranh đối với loại tội phạm này nói chung.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
[6] Về tình tiết tăng nặng: Nhân thân của bị cáo đã có 01 tiền sự: Tại Quyết định số 01/QĐ-UBND ngày 21/5/2019 của Ủy ban nhân dân xã H áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường với thời hạn 03 tháng kể từ ngày 21/5/2019 và 01 tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 33/2016/HSST ngày 30/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Hào xử phạt Nguyễn Trung D 30 tháng tù kể từ 24/02/2016 về tội mua bán trái phép chất ma túy; chấp hành xong hình phạt ngày 26/4/2018 về địa phương, tiền án này của bị cáo chưa được xóa án tích nên phạm tội lần này thuộc trường hợp “tái phạm”. Như vậy, bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng TNHS là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa,bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cảilà tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.
Ngoài ra, tại phiên tòa, gia đình bị cáo còn xuất trình sổ khám bệnh, giấy chứng nhận phẫu thuật và các giấy ra viện thể hiện bị cáo bị tai nạn đứt gân gấp dài ngón I, đứt gân gấp nông ngón 3, bị trấn thương sọ não phải phẫu thuật sọ não. Tại phiên tòa bị cáo trình bày những tai nạn trên mặc dù không ảnh hưởng đến sự nhận thức và điều khiển hành vi của bị cáo nhưng cũng trên ảnh hưởng đến sự vận động các chi, làm giảm khả năng lao động của bị cáo dẫn đến bị cáo có khó khăn trong cuộc sống là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[8] Xét tính chất và mức độ hành vi phạm tộicùng nhân thân của bị cáo,Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án tù trong khung hình phạt nhằm cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo vì bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nhận định ở trên.
[9] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về nhân thân của bị cáo, về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối vớibị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử tuy nhiên về mức hình phạt đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc.
- Về hình phạt bổ sung:
[10] Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.
- Về xử lý vật chứng:
[11] Đối với 01 hộp giấy màu trắng, nắp màu đen hình chữ nhật có kích thước (3x10x20)cm bên trong có: 01 cóong bằng thủy tinh; 02 ống hút bằng nhựa màu xanh dài 20cm; 01 túi nilon màu trắng kích thước (5x10)cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng kích thước (2,5x5)cm bên trong có dính tinh thể màu trắng; 01 hộp giấy hình chữ nhật bên trong có 01 túi nilon màu trắng đựng 70 ống hút nhựa màu trắng dài khoảng 20cm, 01 cân điện tử màu đen có in chữ Pocket Scale sử dụng vào việc cân ma túy là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị kinh tế nên cần cho tịch thu tiêu hủy là có căn cứ.
[12] Đối với 01 điện thoại màn hình cảm ứng nhãn hiệu Xiaomi Redmi màu đen, có sim card 097162xxxx và 096333xxxx là phương tiện D dùng liên lạc với người đàn ông tên T để trao đổi mua bán trái phép chất ma túylà vật có giá trị kinh tế nên cần cho tịch thu xung công.
[13] Đối với 01 điện thoại màn hình cảm ứng nhãn hiệu Oppo có sim card 035813xxxx và 035253xxxx bị cáo dùng liên lạc hàng ngày, không dùng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
- Về các vấn đề khác:
[14] Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Trung D, D khai nhận mua của một người đàn ông tên T nhà ở thị trấn Trâu Quỳ, G có số thuê bao 092889xxxx. Cơ quan CSĐT – Công an huyện G đã thu giữ điện tín đối với số 092889xxxx tại Công ty Cổ phần Viễn thông di động Vietnammobile. Kết quả thu giữ thông tin chủ thuê bao 092889xxxx là Phùng Thị N – sinh 25/3/1990, CMTND số 13808xxxxx, nơi cấp: Phú Thọ, ngày cấp:
20/5/2014. Qua xác minh tại phòng cảnh sát quản lý hành chính về TTXH (PC 06) – Công an tỉnh Phú Thọ cung cấp: đầu số CMTND 13808xxxxx không phải đầu số CMTND do Công an tỉnh Phú Thọ cấp do vậy không thể tra cứu thông tin địa chỉ của người tên Phùng Thị N. Do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ đối tượng T bán ma túy cho bị cáo D theo như bị cáo khai là có căn cứ.
[15] Đối với Nguyễn Trung K đi cùng xe với Nguyễn Trung D nhưng K không biết việc D cất giữ ma túy trên xe. Qua xét nghiệm phát hiện K dương tính với ma túy nên ngày 09/5/2020, Công an huyện G đã ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với Nguyễn Trung K là có căn cứ.
[16] Đối với chiếc xe ô tô BKS 89A-xxxxx màu sơn bạc, nhãn hiệu Hyundai GRAND I10, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Trung D. Qua xác minh, Chủ xe: Công ty cổ phần thương mại C, địa chỉ số X, đường N, thị trấn Khoái Châu, Hưng Yên.Ông Nguyễn Quang Trãi - Giám đốc công ty đã giao chiếc ô tô trên cho anh Vũ Xuân Thủy sinh 1983 trú tại xã Dị Sử, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên quản lý, sử dụng để vận chuyển hành khách hàng ngày. Ngày 19/02/2020, anh Thủy cho D mượn xe ô tô nhưng không biết việc D sử dụng xe để cất giữ ma túy. Ngày 05/3/2020, Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe ô tô trên cho anh Thủy là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật.
[17] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về hình phạt bổ sung, về xử lý vật chứng và về các vấn đề khác là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
- Về án phí:
[18] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quyền kháng cáo:
[19] Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung D 11 năm 06 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.Thời hạn tù tính từ ngày 26/02/2020.
2. Về hình phạt bổ sung: Không.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của BLHS và Điều 106 của BLTTHS:Tịch thu tiêu hủy 01 hộp giấy màu trắng, nắp màu đen hình chữ nhật có kích thước (3x10x20)cm bên trong có: 01 cóong bằng thủy tinh; 02 ống hút bằng nhựa màu xanh dài 20cm; 01 túi nilon màu trắng kích thước (5x10)cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng kích thước (2,5x5)cm bên trong có dính tinh thể màu trắng; 01 hộp giấy hình chữ nhật bên trong có 01 túi nilon màu trắng đựng 70 ống hút nhựa màu trắng dài khoảng 20cm và 01 cân điện tử màu đen có in chữ Pocket Scale.
Tịch thu xung công 01 điện thoại màn hình cảm ứng nhãn hiệu Xiaomi Redmi màu đen, có sim card 097162xxxx và 096333xxxx.
Trả lại cho Nguyễn Trung D 01 điện thoại màn hình cảm ứng nhãn hiệu Oppo có sim card 035813xxxx và 035253xxxx.
(Hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện G theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/6/2020).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Trung D phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 93/2020/HS-ST
| Số hiệu: | 93/2020/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Gia Lâm - Hà Nội |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 29/06/2020 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về