TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
BẢN ÁN 86/2024/HS-ST NGÀY 20/05/2024 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Ngày 20 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 98/2024/TLST-HS, ngày 09 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Đào Văn T, sinh năm 1988; Tên gọi khác: Không; ĐKHKTT: Thôn N, xã N, huyện T, Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên bố ông Đào Xuân L sinh năm 1961; Họ và tên mẹ bà Chu Thị S, sinh năm 1962; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ là Nguyễn Thị T1 sinh năm 1991 (Đã ly hôn); Bị cáo có hai con lớn sinh năm 2012, bé sinh năm 2014; Theo danh chỉ bản số 685 lập ngày 24/12/2023 của Công an huyện T, TP Hà Nội về tiền án: Không Nhân thân:
- Tại bản án số 47/2017/HSST ngày 13/4/2017 Tòa án nhân dân TP. Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xử phạt bị cáo 15 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, bị cáo chấp hành xong hình phạt từ ngày 09/02/2018.
- Tại bản án số 73/2020/HSST Ngày 10/12/2020 bị Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xử phạt 09 tháng tù giam về tội Đánh bạc, chấp hành xong hình phạt từ ngày 04/10/2021- đã được xóa án tích Bị can bị bắt tạm giam từ ngày 22/12/2023, hiện bị can đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ ngày 14/12/2023, tổ công tác Công an xã V đang tiến hành tuần tra kiểm soát tại khu vực đoạn cây đa tại thôn V - xã V - huyện T - Hà Nội thì phát hiện có anh Lê Văn V (sinh năm 1998, HKTT: xã V - huyện V - Lào Cai) đang mặc áo Grab và Đào Văn T mặc áo cộc tay màu xanh, quần ngố, tay trái cầm 01 túi nilon đang đứng cạnh xe máy BKS 24B3-xxxx có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra thì T đã bỏ chạy đồng thời đã vứt xuống dưới đất 01 túi nilon. Thật bỏ chạy được một đoạn thì bị tổ công tác bắt giữ và dẫn giải lại vị trí mà T đã vứt túi nilon. Tổ công tác yêu cầu T nhặt túi nilon lên. Tiến hành kiểm tra túi nilon, bên trong có 01 hộp kẹo cao su Xiliton màu đỏ, 01 hộp kẹo cao su Coolair màu xanh, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có chứa 01 túi nilon đựng 02 túi nilon nhỏ bên trong có các hạt tinh thể màu trắng và 01 túi nilon nhỏ bên trong chứa 10 viên nén màu hồng. Tại chỗ, T không khai gì và không hợp tác làm việc. Kiểm tra anh V không phát hiện thu giữ gì. Tại chỗ anh V khai hành nghề xe ôm Grab và được T thuê chở xuống xã V, huyện T, Hà Nội. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản thu giữ niêm phong tang vật và yêu cầu các đối tượng về trụ sở để làm việc.
Ngày 04/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với chất tinh thể màu trắng và các viên nén màu hồng thu giữ của Đào Văn T.
Tại bản kết luận giám định số 8318/KL-KTHS ngày 22/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:
Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon (ký hiệu T1) là ma túy loại Ketamine, khối lượng 9,466 gam.
Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon (ký hiệu T2) là ma túy loại Ketamine, khối lượng 12,557 gam.
10 viên nén màu hồng bên trong 01 túi nilon (ký hiệu T3) đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 3,910 gam.
Cơ quan giám định đã sử dụng 0,291 gam trong tổng số 22,023 gam ma túy loại Ketamine và 0,157 gam trong tổng số 3,910 gam ma túy loại MDMA thu giữ của T, còn lại 21,732 gam ma túy loại Ketamine và 3,816 gam MDMA, hoàn trả cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T.
Quá trình tại cơ quan điều tra: T khoảng trưa ngày 13/12/2023, bị cáo đi ra bến xe huyện T, tỉnh Thái Bình để tìm mua ma tuý kẹo, ke. Tại đây, T gặp và mua của một người đàn ông 01 túi nilon bên trong có 02 túi nilon chứa ma tuý ke và 01 túi nilon chứa 10 viên ma tuý kẹo với giá 2.200.000 đồng. Sau khi mua xong, T cất số ma tuý đó vào trong người rồi bắt xe khách đi lên khu vực quận N, Hà Nội, vào một quán Net ngồi chơi game (T không nhớ địa điểm cụ thể). Tại đây, T chat làm quen qua facebook với một người (T không biết lai lịch, không nhớ nickname của người này) và cả hai hẹn gặp nhau ở chỗ gốc cây đa, khu chợ mới thôn V, xã V, huyện T, Hà Nội để uống nước, nói chuyện. Đến chiều tối ngày 14/12/2023, T nhờ một người đi đường đặt xe ôm grab do anh Lê Văn V điều khiển xuống chỗ hẹn với người bạn vừa mới quen nêu trên. Khi anh V điều khiển xe chở T đến đầu đường P, thị trấn V, huyện T, Hà Nội thì T bảo anh V tìm và dừng xe ở quán tạp hóa ven đường để T mua bao thuốc. Anh V đã dừng xe ở quán tạp hóa Thủy Tiên Beauty của chị Trần Thị T2 (SN 1972 - ở số 4, đường P, thị trấn V, huyện T, Hà Nội). T đi một mình vào mua 01 bao thuốc Thăng Long, 01 hộp kẹo Xyliton và 01 lọ kẹo cao su Cool Air. Sau khi mua xong, T quay ra xe anh V để tiếp tục đi xuống chỗ hẹn. Trên đường đi, T đã bóc bao thuốc lá Thăng Long vỏ mềm rồi lấy các điếu thuốc vứt đi. Sau đó T lấy số ma tuý mua từ hôm trước cất vào trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long vỏ mềm rồi cất vào trong túi nilon đang cầm ở tay. Khi T và anh V đi đến gần gốc cây đa khu chợ mới thôn V, xã V, huyện T, Hà Nội thì dừng lại. T xuống xe đang đứng đợi bạn như đã hẹn thì bị tổ công tác kiểm tra hành chính. T khai mục đích T mua số ma tuý đó để sử dụng cho bản thân. Việc T có ma tuý và cất giấu ma tuý trong người anh V và người bạn mới quen không biết. Trong quá trình điều tra T tự gây thương tích, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra Quyết định giám định tỷ lệ phần trăm thương tích và cơ chế hình thành thương tích của T nhưng T từ chối đi giám định. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra Quyết định dẫn giải đối với T để đưa T đến Trung tâm giám định pháp y Hà Nội để tiến hành giám định thương tích nhưng T tiếp tục từ chối việc dẫn giải đi giám định. Quá trình điều tra xác định thương tích ở phần bên phải cổ và phần bụng của T là do T tự gây ra cho mình do đó Cơ quan CSĐT- Công an huyện T không có hình thức xử lý gì.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Hồi 19 giờ 00 phút ngày 14/12/2023, tại khu vực gốc cây đa khu chợ mới thôn V, xã V, huyện T, Hà Nội bị cáo đang tàng trữ trái phép 02 túi ma túy loại Ketamine có tổng trọng lượng 22,023 gam (gồm 01 túi nilon ma túy Ketamine có trọng lượng 9,466 gam và 01 túi nilon ma túy có trọng lượng 12,557 gam) và 10 viên nén màu hồng ma túy loại MDMA có trọng lượng 3,910 gam với mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã V, huyện T, thành phố Hà Nội kiểm tra và thu giữ tang vật. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, luận tội giữ nguyên nội dung bản cáo trạng số 92/CTVKSTT ngày 03/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố bị cáo Đào Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015; Điều 106 BLTTHS 2015.
Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Đào Văn T mức án từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt ngày 22/12/2023.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng: Cho tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi trừ lấy mẫu làm giám định.
Đối với anh Lê Văn V, làm nghề xe ôm và được T thuê chở đi, không biết việc T cất giấu ma túy nên Cơ quan Cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với người đàn ông bán ma tuý cho T, T khai không biết tên tuổi địa chỉ nên Cơ quan CSĐT- Công an huyện T không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Nói lời sau cùng bị cáo nhận thấy việc làm của bản thân là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa và lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 19 giờ 00 phút ngày 14/12/2023, tại khu vực gốc cây đa khu chợ mới thôn V, xã V, huyện T, Hà Nội, bị cáo đang tàng trữ trái phép 02 túi ma túy loại Ketamine có tổng trọng lượng 22,023 gam (gồm 01 túi nilon ma túy Ketamine có trọng lượng 9,466 gam và 01 túi nilon ma túy có trọng lượng 12,557 gam) và 10 viên nén màu hồng ma túy loại MDMA có trọng lượng 3,910 gam với mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã V, huyện T bắt giữ. Bị cáo tàng trữ hai loại ma túy là MDMA có khối lượng 3,910 gam, Ketamine có khối lượng 22,023 gam. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép 3,910 gam MDMA và 22,023 gam Ketamine để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã cố ý xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy và xâm phạm trật tự an toàn xã hội được Bộ luật Hình sự bảo vệ. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải xử nghiêm trọng khung hình phạt, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên có căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có 2 tiền án đã được xóa án tích trong đó có 01 tiền án liên quan đến ma túy, do đó HĐXX nhận định bị cáo là người có nhân thân xấu.
Đại diện VKS đề nghị hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đại diện VKS đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX.
[5] Về xử lý vật chứng: Cho tiêu hủy khối lượng ma túy 21,732 gam loại Ketamine và 3,816 gam MDMA còn lại sau giám định, đây là vật nhà nước cấm lưu hành.
Đối với các vỏ túi nilon, 01 hộp kẹo cao su Xyliton màu đỏ, 01 hộp kẹo cao su CoolAir màu xanh, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và các mảnh vỡ thủy tinh có dính dung dịch màu đỏ là vật không có giá trị sử dụng cho tiêu hủy.
Đối với anh Lê Văn V, làm nghề xe ôm và được T thuê chở đi, không biết việc T cất giấu ma túy nên Cơ quan Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
Đối với người đàn ông bán ma tuý cho T, T khai không biết tên tuổi địa chỉ nên Cơ quan CSĐT- Công an huyện T không có căn cứ để xác minh làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015; Điều 106, Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 - Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đào Văn T 06 (Sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/12/2023.
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo
4. Về dân sự: Đã giải quyết xong, không xem xét giải quyết.
5. Về vật chứng: Cho tiêu hủy - 01 phong bì niêm phong dán kín còn nguyên vẹn bên ngoài có chữ ký niêm phong của Lê Văn V, Nguyễn Ngọc K, Đào Văn T4, cán bộ Lê Sơn T5, giám định viên Trần Ngọc C (theo quyết định chuyển vật chứng số 70 ngày 03/5/2024 bên trong có 21,735 gam ma túy loại Ketamine và 3,816 gam ma túy loại MDMA) - 01 phong bì niêm phong dán kín còn nguyên vẹn bên ngoài có chữ ký niêm phong của Lê Văn V, Nguyễn Ngọc K, Đào Văn T4, cán bộ Lê Sơn T5, giám định viên Trần Ngọc C (theo quyết định chuyển vật chứng số 79 ngày 03/5/2024 bên trong có 03 vỏ túi nilon) - 01 phong bì niêm phong dán kín còn nguyên vẹn bên ngoài có chữ ký niêm phong của Lê Văn V, Nguyễn Ngọc K, Đào Văn T4, cán bộ Lê Sơn T5, giám định viên Trần Ngọc C (theo quyết định chuyển vật chứng số 79 ngày 03/5/2024 bên trong có 01 túi nilon màu trắng chữ màu đỏ 1#, 0,04x70x 50 mm, 100PCS) - 01 phong bì niêm phong dán kín còn nguyên vẹn bên ngoài có chữ ký niêm phong của Lê Văn V, Nguyễn Ngọc K, Đào Văn T4, cán bộ Lê Sơn T5, giám định viên Trần Ngọc C (theo quyết định chuyển vật chứng số 79 ngày 03/5/2024 bên trong có 01 túi nilon màu trắng) - 01 phong bì niêm phong dán kín còn nguyên vẹn bên ngoài có chữ ký niêm phong của Lê Văn V, Nguyễn Ngọc K, Đào Văn T4, cán bộ Lê Sơn T5, giám định viên Trần Ngọc C (theo quyết định chuyển vật chứng số 79 ngày 03/5/2024 bên trong có 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long dạng vỏ mềm màu vàng) - 01 phong bì niêm phong dán kín còn nguyên vẹn bên ngoài có chữ ký niêm phong của Lê Văn V, Nguyễn Ngọc K, Đào Văn T4, cán bộ Lê Sơn T5, giám định viên Trần Ngọc C (theo quyết định chuyển vật chứng số 79 ngày 03/5/2024 bên trong có 01 lọ kẹo cao su nhãn hiệu Xylitol màu đỏ và 01 lọ kẹo cao su nhãn hiệu Cool Air màu xanh) (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì)
6. Về án phí và Quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 86/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 86/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Thanh Trì - Hà Nội |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 20/05/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về