TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
BẢN ÁN 78/2024/HS-ST NGÀY 07/08/2024 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2024/HSST ngày 12 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn C (Tên gọi khác: Không); sinh ngày 19 tháng 3 năm 1987; nơi sinh và cư trú: xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; Giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 9/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: không; Nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Nguyễn Văn T và bà Vũ Thị T; có vợ là Nguyễn Thị P (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án: không; tiền sự: có 01 tiền sự. Tại quyết định số 05/QĐ- XLHC ngày 08/01/2021 của TAND quận Thanh Xuân, phố Hà Nội áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn C, thời hạn 24 tháng. Ngày 28/12/2022, C chấp hành xong.
Về Nhân thân:
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 16/HSST ngày 01/4/2016 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/9/2017; C chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 16/5/2016.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 155/HSST ngày 31/5/2018 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn Văn C 01 năm 08 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/9/2019; C chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 16/11/2018; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2024 đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Văn C là người nghiện ma túy. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 26/3/2024, C đi đến khu vực bến xe Phúc Yên thuộc địa phận phường Hùng Vương, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây C gặp và mua của 01 người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch 01 túi ma túy heroine với giá 200.000 đồng. Đến khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, C cầm ma túy ở lòng bàn tay phải đi tìm nơi sử dụng thì bị Công an phường Hùng Vương bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Đối với người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch bán ma túy cho C vào ngày 26/3/2024 tại bến xe Phúc Yên. Quá trình điều tra chưa làm rõ được nhân thân, danh tính, địa chỉ nên cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau.
Việc vật chứng thu giữ: 01 túi nilon màu trắng, viền đỏ bên trong có chứa các chất cục bột màu trắng. Tang vật được niêm phong theo quy định ký hiệu là A1.
Tại bản kết luận giám định số: 847/KL-KTHS ngày 30/3/2024, phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận: “Chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định có khối lượng là 0,1518g (Không phảy một năm một tám gam, không kể bao bì) loại Heroine. Cơ quan giám định đã hoàn lại A1 = = 0,0872 gam và toàn bộ bao gói.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số: 82/CT-VKSPY ngày 11/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn C và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo C từ 01 (một) năm 08 (tám) tháng đến 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn không áp dụng hình phạt bổ sung, đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo qui định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên của Cơ quan điều tra – Công an thành phố Phúc Yên, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn, trưng cầu giám định, lấy lời khai của bị can và những người tham gia tố tụng, kết luận điều tra, ban hành cáo trạng. Thời hạn điều tra, truy tố đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, bị cáo không ai có khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Vì vậy, hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 26/3/2024, tại tổ 4, phường Hùng Vương, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Văn C có hành vi cất giữ 01 gói ma túy (loại Heroine) có khối lượng 0,1518g, mục đích để sử dụng thì bị Công an phường Hùng Vương, thành phố Phúc Yên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
[3]. Xét lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn C phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng khác. Do vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan sai. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c)…Heroine..”.
[4]. Xét tính chất vụ án nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an tại địa phương; là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác như: Trộm cắp, giết người, chiếm đoạt tài sản…. Do vậy, cần xử phạt nghiêm, áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo nhằm mục đích giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm chung.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, hậu quả xảy ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Nguyễn Văn C, thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân xấu đã 02 lần bị Tòa án xét xử về về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo cũng đã 01 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà còn tiếp tục phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thể hiện bị cáo có ý thực coi thường pháp luật. Tuy nhiên, sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ không lớn; bị có bố là ông Nguyễn Văn T đã từng tham gia quân đội và được tặng thưởng huân chương chiến sĩ vẻ vang nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với người đàn ông C khai đã bán ma túy cho C, Cơ quan điều tra đã điều tra tuy nhiên thông tin không đầy đủ nên đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5]. Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, trước khi bị cáo Nguyễn Văn C làm nghề tự do, thu nhập thấp không ổn định, trọng lượng ma túy bị cáo tàng trữ không lớn, bị cáo không có tài sản gì, bản thân bị cáo đang bị tạm giam. Do vậy, không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn C là phù hợp.
Xét thấy, bị cáo Nguyễn Văn C làm nghề tự do không có thu nhập ổn định, tài sản do vậy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Về xử lý vật chứng: Cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự. Cần tịch thu, tiêu hủy 0,0872g mẫu ma tuý cùng toàn bộ bao gói niêm phong hoàn trả sau giám định là có căn cứ.
[7]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1/ Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 26 tháng 3 năm 2024.
2/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 0,0872g mẫu ma túy cùng toàn bộ bao gói niêm phong hoàn trả sau giám định. Các vật chứng, tài sản nêu trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận tài sản, vật chứng lập ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
3/ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 78/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 78/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Phúc Yên - Vĩnh Phúc |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 07/08/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về