Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 78/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

BẢN ÁN 78/2023/HS-ST NGÀY 13/12/2023 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 13 tháng 12 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 100/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

NGUYỄN THANH T, sinh ngày 18 tháng 10 năm 1977 tại Lạc Sơn - Hòa Bình. Nơi ĐKHKTT/Chỗ ở: Phố T, thị trấn V, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh C (đã chết) và bà Cao Thị N; bị cáo chưa có vợ con;

Tiền án: Có 01 tiền án; năm 2020 bị Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo Bản án số 37/2020/HS-ST, ngày 17/9/2020 (chưa hết hạn xoá án tích).

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2016, bị Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo Bản án số 14/2016/HS-ST, ngày 03/6/2016 (đã chấp hành xong bản án). Ba lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc các năm 2006, 2010 và 2012.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/7/2023, tạm giam từ ngày 04/8/2023. Có mặt tại phiên tòa.

- Người tham gia tố tụng khác (Người chứng kiến):

Ông Bùi Văn T, sinh năm 1983. Trú tại: Phố L, thị trấn V, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

Bà Quách Thị T, sinh năm 1954. Trú tại: Phố M, thị trấn V, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 00 phút, ngày 26/7/2023, tại đoạn đường thuộc phố L, thi trấn V, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình, Tổ công tác Công an huyện Lạc Sơn đang làm nhiệm vụ phát hiện Nguyễn Thanh T đang điều khiển xe môtô BKS 28N1-177.xx, có biểu hiện phạm tội về ma tuý nên ra tín hiệu yêu cầu T dừng xe kiểm tra. Do lo sợ bị phát hiện phạm tội nên Nguyễn Thanh T đã ném từ tay một gói giấy bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng xuống lòng đường. Bị cáo Nguyễn Thanh T khai chất bột dạng cục ném xuống lòng đường là chất ma tuý bị cáo mua được từ một người đàn ông không quen biết tại khu vực thành phố Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình ngày 25/7/2023 với giá 100.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma tuý, bị cáo T về nhà lấy một phần ma tuý sử dụng, phần còn lại cất giấu theo người để sử dụng dần thì bị bắt quả tang.

Tang vật thu giữ được tại giai đoạn điều tra và quá trình xử lý vật chứng: Vật chứng thu giữ gồm toàn bộ số ma túy thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Thanh T; 01 xe môtô BKS 28N1- 177.xx là tài sản của Nguyễn Thanh T. Các vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình chờ xử lý.

Tại kết luận giám định số 341/KL-KTHS, ngày 01/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hoà Bình kết luận: Chất bột dạng cục thu giữ khi bị bắt quả tang Nguyễn Thanh T là ma tuý, loại Heroine, khối lượng 0,05 (Không phẩy không năm) gam. (Heroine là ma tuý nằm trong danh mục IA, số thứ tự: 09, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ).

Tại Bản cáo trạng số 74/CT-VKS-HS, ngày 09/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo tại thành phố Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình, Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân dạng, căn cước nên Cáo trạng không đề cập xử lý.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung quyết định truy tố, tội danh, điều khoản luật áp dụng đối với bị cáo. Xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự 2015. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 13 đến 15 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo do bị cáo là người không có điều kiện về kinh tế. Về vật chứng của vụ án: đề nghị tịch thu, tiêu hủy phong bì niêm phong bên trong chứa chất ma túy là mẫu vật hoàn lại sau giám định. Về chiếc xe môtô BKS 28N1- 177.xx là tài sản hợp pháp của Nguyễn Thanh T, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên đề nghị trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh T.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình; không có ý kiến gì về nội dung cáo trạng phản ánh; không kêu oan. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, của Cơ quan điều tra, của Kiểm sát viên, Viện Kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên xác nhận là hợp pháp. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử những người tham gia tố tụng không có khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng.

[2] Về căn cứ xác định tội danh, điều khoản luật áp dụng đối với bị cáo: Ngày 26/7/2023, bị cáo Nguyễn Thanh T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý; đã để trong người 0,05 gam ma tuý, loại Heroine mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý. Tại giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình; do lo sợ nên bị cáo ném ma tuý tàng trữ từ người xuống lòng đường. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Số lượng ma túy bị cáo tàng trữ dưới 0,1 gam nhưng bị cáo đang có một tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, chưa được xoá án tích mà lại vi phạm. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh, điều khoản luật áp dụng là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tội phạm mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội; đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất gây nghiện của Nhà nước được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an địa phương. Bản thân bị cáo là người có nhận thức xã hội, có hiểu biết pháp luật, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng lại nghiện chất ma túy, không từ bỏ được ma túy. Ma túy là hiểm họa của xã hội, là nguyên nhân gây mất an ninh trật tự xã hội, gây ra các tệ nạn xã hội và là nguồn gốc làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy, biết nhà nước cấm tàng trữ các chất ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo nhân thân xấu, nhiều lần bị xét xử về tội phạm ma tuý, nhiều lần bị áp dụng xử lý hành chính Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng không từ bỏ được ma tuý; vẫn tái nghiện chất ma tuý. Do vậy, cần áp dụng đối với bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, đủ để cải tạo bị cáo trở thành công dân bình thường và để răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự 2015. Tại giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều đã thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người có thu nhập không ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng của vụ án: Vật chứng là mẫu vật Heroine hoàn lại sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình là các chất ma túy, là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với chiếc xe môtô BKS 28N1-177.xx thu giữ khi bị cáo Nguyễn Thanh T khi bị bắt. Xét, bị cáo tàng trữ ma tuý trong người bị cáo, không tàng trữ trong xe, xe chỉ là phương tiện bị cáo di chuyển, không phải là phương tiện phạm tội, là tài sản hợp pháp của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh T.

[7] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 13 (Mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính ngày tạm giữ 26/7/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 Phong bì niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình bên trong có chứa chất ma túy còn lại sau giám định.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh T 01 xe môtô BKS 28N1-177.xx.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng và Phiếu nhập kho số NK 000013 ngày 13/11/2023).

4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

35
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 78/2023/HS-ST

Số hiệu:78/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lạc Sơn - Hoà Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 13/12/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về