TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R, TỈNH KIÊN GIANG
BẢN ÁN 70/2024/HS-ST NGÀY 12/04/2024 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Trong ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử vụ án hình sự sơ thẩm số 86/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh ngày 07/3/2001. Nơi sinh: thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Nơi ĐKTT và chỗ ở: Lô 8-29 khu tái định cư VQ, phường VQ, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: Căn số 03, đường số 4, khu phố Dương Minh C, phường VQ, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1980 và bà Hoàng Phương L, sinh năm 1981; Em ruột: 02 người, lớn sinh năm 2003 và nhỏ sinh năm 2009; tiền án: Chưa.
* Tiền sự: Ngày 23/02/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trong thời hạn 12 tháng (Quyết định số 06/2021/QĐ-TA), chấp hành xong ngày 19/12/2021, chưa xóa tiền sự.
Ngày 12/12/2023, có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị bắt quả tang và bị tạm giữ, đến ngày 21/12/2023 được trả tự do. Ngày 20/12/2023 bị khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 350 ngày 20/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại căn số 3, đường số 4, khu phố Dương Minh C, phường VQ, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Bị cáo có mặt tại tòa.
* Người chứng kiến:
1. Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Th, xã Đ, huyên A, tỉnh Kiên Giang.
2. Nguyễn Minh Q, sinh năm 1991 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 112 Đường Đ, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 22 giờ 30 phút ngày 12/12/2023, tại trước khu vực bến tàu R thuộc phường Vĩnh Thanh, thành phố R, tỉnh Kiên Giang, Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 04 - Bộ tư lệnh Cảnh sát biển phối hợp với Trạm kiểm soát Biên phòng R, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố R, Công an phường Vĩnh Thanh phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn H có hành vi tàng trữ trái phép ma túy, thu giữ trong lòng bàn tay phải của H 01 (một) bịch ny lon trong suốt được hàn kín, bên trong có chứa các hạt chất rắn màu trắng không đồng nhất.
Qua làm việc, H khai nhận bắt đầu sử dụng ma túy từ khoảng năm 2020 đến nay nhưng không thường xuyên, loại ma túy sử dụng là ma túy đá. Vào khoảng 21 giờ ngày 12/12/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên H đến gặp người thanh niên tên T (không rõ họ tên thật, địa chỉ) tại khu vực Công viên văn hóa phường An Hòa, thành phố R mua 01 (một) bịch ma túy đá với giá 500.000 đồng, mục đích để sử dụng. Sau khi mua được ma túy, H cầm ma túy trong tay rồi đến bến tàu R tìm nơi sử dụng thì bị Công an bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Ngày 20/12/2023, Nguyễn Văn H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra.
* Vật chứng thu giữ: 01 (một) bịch nylon trong suốt được hàn kín, bên trong chứa các hạt chất rắn màu trắng không đồng nhất, được niêm phong theo quy định.
* Kết luận giám định số 1293/KL-KTHS ngày 15/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận các hạt chất rắn màu trắng không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon trong suốt được hàn kín, được niêm phong gửi giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,4467 gam.
Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong danh mục IIC, STT 247. Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
* Bản Cáo trạng số 77/CT-VKSRG ngày 06/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 12 (mười hai) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi niêm phong mẫu vật vụ số: 1293/2023 ngày 15/12/2023, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng N, người chứng kiến niêm phong Nguyễn Ho và hình dấu trên của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang. Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 334 ngày 20/12/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố R.
- Bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như Cáo trạng đã nêu trên. Bị cáo thống nhất với nội dung Kết luận giám định số 1293/KL- KTHS ngày 15/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang và đồng ý với quan điểm truy tố, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo đã nhận thức rõ hành vi sai trái của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an thành phố R, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố R, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên toà hôm nay bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào lúc 22 giờ 30 phút ngày 12/12/2023, tại trước khu vực bến tàu R thuộc phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang, Nguyễn Văn H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuy, bị bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay phải của H 01 (một) bịch ny lon trong suốt được hàn kín, bên trong có chứa các hạt chất rằn màu trắng không đồng nhất, qua giảm định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,4467 gam.
Từ những chứng cứ đã nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như đã viện dẫn nêu trên.
[3] Xét về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo ý thức được việc sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, bất kỳ ai vi phạm đều bị xử lý nghiêm. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn H là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất về ma túy. Bản thân bị cáo có đủ năng lực biết rất rõ tác hại của ma túy ảnh hưởng như thế nào đối với sức khỏe, tinh thần của con người và cũng là tiền đề tạo ra nhiều tệ nạn xấu, đặc biệt là dễ dẫn đến nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác làm mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến bản thân bị cáo nói riêng và cộng đồng xã hội nói chung. Vì vậy Nhà nước luôn chú trọng việc đấu tranh phòng ngừa và xử lý nghiêm đối với loại tội phạm này. Ngoài ra, bị cáo còn là đối tượng có tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý mặc dù đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng không lấy đó làm bài học sửa đổi bản thân hướng thiện mà còn tiếp tục trượt dài vào con đường phạm tội thể hiện thái độ xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần xử bị cáo một mức hình phạt tương xứng đối với tội trạng của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, cũng đồng thời ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Văn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự làm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình.
[5] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc định tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhận để xem xét.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn; đồng thời bị cáo cũng không đảm nhiệm chức vụ, không hành nghề cũng như không làm công việc gì nhất định. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
[7] Về Xử lý vật chứng. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tuyên xử tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên ngoài ghì niệm phong mẫu vật vụ số: 1293/2023 ngày 15/12/2023, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng N, người chứng kiến niêm phong Nguyễn H và hình dấu trên của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang. Theo Quyết định chuyển vật chứng số 44/QĐ-VKS ngày 06/3/2024 của Viện kiểm dát nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
[9] Về các vấn đề khác của vụ án: Đối với người thanh niên tên T đã bán ma tuý cho bị cáo do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/12/2023 đến ngày 21/12/2023.
2. Về xử lý vật chứng. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tuyên xử tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi niêm phong mẫu vật vụ số: 1293/2023 ngày 15/12/2023, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng N, người chứng kiến niêm phong Nguyễn H và hình dấu trên của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang. Theo Quyết định chuyển vật chứng số 44/QĐ-VKS ngày 06/3/2024 của Viện kiểm dát nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 12/4/2024).
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 70/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 70/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Rạch Giá - Kiên Giang |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 12/04/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về