TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
BẢN ÁN 68/2023/HS-ST NGÀY 07/12/2023 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Ngày 30/11/2023 và ngày 07/12/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2023/TLST-HS ngày17 tháng 4 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2023/QĐXXST – HS ngày 29 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Mạnh C(Tên gọi khác: T), sinh năm 2000, nơi sinh: Bình Phước, HKTT: Thôn P, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước, Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa giáo, nơi cư trú: Thôn P, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước, Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 06/12, Tiền án, tiền sự: Không; Họ và tên cha: Trần Viết Kế, sinh năm 1969, Họ và tên mẹ: Bùi Thị Thanh Hồng, sinh năm 1972. Bi cáo bị tạm giữ từ ngày 05/01/2023 đến ngày 10/01/2023 thay thế biện pháp tạm giữ bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 gi/ờ ngày 02/01/2023 Trần Mạnh Cmột mình điều khiển xe mô tô Nhãn hiệu Hon da loại VISION BS: 93H1-xxxxx từ nhà ở Thôn P, xã P, thị xã P, Bình Phước đến khu vực bến xe P thuộc Khu phố 1, Phường Long Thủy, thị xã P, tỉnh Bình Phước, C gặp 01 người đàn ông chạy xe ôm (không rõ nhân thân, lai lịch) nên hỏi người đàn ông này là "Có ma túy bán không" người này nói “Có” C lấy 300.000₫ trong người ra đưa cho người đàn ông này cầm tiền và đi đâu không rõ, khoảng 10 phút sau quay lại đưa cho C 01 bịch nylon màu trắng dạng khóa miết, kích thước khoảng (5x9)cm bên trong có chứa ma túy tổng hợp (dạng đá). C cầm số ma túy này bỏ vào túi quần soọc bên trái và đi xe mô tô về nhà treo quần lên móc trong phòng ngủ Đến khoảng 17 giờ 00', ngày 04/01/2023 C lấy quần Sooc (bên trong có số ma túy) mặc vào người và điều khiển xe mô tô VISION BS: 93H1-xxxxx đến nhà Trần Nguyễn Sỹ Hoàng (em họ của C) ở gần đó để nhờ Hoàng chở C đến quán cà phê "Sao Băng” thuộc Thôn P, xã P, thị xã P, để sử dụng ma túy, khi tới nơi C vào quán còn Hoàng điều khiển xe mô tô VISION BS: 93H1-xxxxx về nhà đưa xe cho mẹ của C. Đến khoảng 17 giờ 40 phút, cùng ngày 04/01/2023 C ường lấy số ma túy trong túi quần ra cầm bên tay trái để sử dụng tại quán thì bị lực l ượng Công an xã Phước Tin phát hiện nên C đã vứt bịch nylon bên trong có ma túy xuống đất. Công an xã Phước Tin đã thu giữ và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Mạnh Cvề hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, vật chứng thu giữ: 01 gói nylon dạng miết khóa, kích thước khoảng 5x9cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng (Ma túy) được niêm phong. Sau đó Công an xã Phước Tín đã giao C cùng hồ sơ và vật chứng cho Cơ quan điều tra Công an thị xã P để điều tra theo thẩm quyền.
Trong quá trình điều tra Trần Mạnh Cđã khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của mình (bl 16, 17, 40-57, 65a, 65b). Đối với xe mô tô Nhãn hiệu VISION BS: 93H1 - xxxxx VISION BS: 93H1-xxxxx của bà Bùi Thị Thanh Hồng (mẹ ruột C) mua năm 2020 nhờ con dâu tên Lê Thị Huyền đứng tên đăng ký. Do khôn g liên quan đến vụ án nên quá trình điều tra không thu giữ.
Căn cứ kết luận giám định số 34/KL-KTHS ngày 10/01/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M) được niêm phong gửi giám định là Ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,4709 gam. Hoàn lại đối tượng giám định, mẫu hoàn lại được niêm phong có khối lượng: 0,3458 gam (bl 23).
Về vật chứng gồm: 01 phong bì sau giám định (đã niêm phong) bên trong có:
0,3458 gam ma túy.
Tại bản cáo trạng số 29 /CTr – VKS ngày 14/4/2023 Viện kiểm sát nhân dân thị xã P đã truy tố các bị cáo Trần Mạnh Cvề tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trần Mạnh Cvề tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt Trần Mạnh Cmức án từ 15 (Mười lăm) đến 18 (Mười tám) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì sau giám định (đã niêm phong) bên trong có: 0,3458 gam ma túy.
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên và không tự bào chữa; Bị cáo nói lời sau cùng biết lỗi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã P, Viện kiểm sát nhân dân thị xã P trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, tại phiên toà bị cáo thừa nhận: Ngày 02/02/2023, bị cáo từ nhà đi đến khu vực Bến xe thị xã P gặp một người đàn ông bán ma túy bị cáo mua 300.000₫ ma tuý, người đàn ông đưa cho bị cáo 01 bịch nylon (bên trong chứa ma túy) bị cáo đem về nhà cất dấu. Đến khoảng 17 giờ 00' ngày 04/01/2023 bị cáo đem số ma túy đã mua trên đến quán cà phê “Sao Băng" thuộc Thôn P, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước để sử dụng thì bị bắt quả tang.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[3] Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã P đối với bị cáo Trần Mạnh Ctheo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[4] Bị cáo Trần Mạnh Clà người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, ý thức được điều đó nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm I, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo mà không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù. Vì vậy, hội đồng xét xử thấy việc áp dụng hình phạt tù, cho hưởng án treo đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc Gia Huy là là đủ răn đe giáo dục bị cáo, phù hợp quy định pháp luật.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn nên Hội đồng xét xử cần quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: 01 phong bì sau giám định (đã niêm phong) bên trong có:
0,3458 gam ma túy là tang vật của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh C(Tên gọi khác: T) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2] Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 65, Điều 50, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Mạnh C(Tên gọi khác: T) 18 (Mười tám) tháng tù cho huởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Trần Mạnh Ccho Ủy ban nhân dân xã Phước Tín, thị xã P, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo này.
[3]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì sau giám định (đã niêm phong) bên trong có: 0,3458 gam ma túy.
[4]. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án, Bị cáo Trần Mạnh Cphải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 68/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 68/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thị xã Phước Long - Bình Phước |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 07/12/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về