Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 58/2023/HS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 58/2023/HS-ST NGÀY 30/08/2023 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 30 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 49/2023/HSST ngày 27/7/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXST- HS ngày 15/8/2023 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Văn L, sinh năm 1988.

HKTT: Số 7, ngõ 21, tổ dân phố Cửu V, thị trấn Trâu Quỳ, huyện G, thành phố Hà Nội.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/4/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 35 phút ngày 15/4/2023, tại đường khu dân cư thuộc địa phận khu phố Tư Thế, phường Trí Quả, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Công an phường Trí Quả, thị xã Thuận Thành bắt quả tang Nguyễn Văn L đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ gồm: Tại lòng bàn tay phải của L 01 túi nilon màu trắng, viền kẻ màu xanh, bên trong túi có 01 viên nén hình tròn màu hồng trên mặt viên nén có chữ “WY” và 01 túi nilon màu trắng, viền kẻ màu xanh bên trong túi có chứa chất tinh thể màu trắng. Ngoài ra còn thu giữ của L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu đen, gắn 02 sim số: 0975.449.xxx và 0386.067.xxx. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong số vật chứng theo quy định. Sau đó bàn giao L cùng toàn bộ vật chứng thu giữ cho Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thuận Thành để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Kết luận giám định số 889/KLGĐ-KTHS ngày 17/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh, kết luận:

+ Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon màu trắng có viền kẻ màu xanh gửi giám định có khối lượng là 0,3252 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.

+ 01 viên nén màu hồng, trên mặt viên nén có chữ “WY” bên trong 01 túi nilon màu trắng có viền kẻ màu xanh gửi giám định có khối lượng là 0,0780 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.

Nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ Nguyễn Văn L khai nhận: Bản thân L sử dụng ma túy từ năm 2019 đến nay. Khoảng 14 giờ ngày 15/4/2023, L thuê xe ôm đi từ ngã tư Trâu Quỳ, huyện G, thành phố Hà Nội sang phường Trí Quả, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh để tìm mua ma túy với mục đích về để sử dụng cho bản thân. Khi đi tới địa phận phường Trí Quả, L xuống xe và đi bộ đến một ngã ba thì gặp một người đàn ông không quen biết đang đứng ở lề đường, do sử dụng ma túy đã lâu nên L biết người này cũng sử dụng ma túy nên L có hỏi người đàn ông: “Anh có đồ không để cho em cái hai một” ý L hỏi mua của người đàn ông 200.000 đồng ma túy đá và 100.000 đồng ma túy ngựa, thì người đàn ông bảo có. L đưa cho người đàn ông 300.000 đồng, người này cầm tiền rồi đưa lại cho L 01túi nilon màu trắng, viền kẻ màu xanh, bên trong túi có 01 viên nén hình tròn màu hồng trên mặt viên nén có chữ “WY” và 01túi nilon màu trắng, viền kẻ màu xanh bên trong túi có chứa chất tinh thể màu trắng. L cầm ở lòng bàn tay phải và đi về, khi đang đi trên đường khu dân cư thuộc địa phận khu phố Tư Thế, phường Trí Quả thì bị lực lượng Công an bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 52/CT-VKS, ngày 27/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành truy tố Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, Nguyễn Văn L cho rằng chưa nhận được bản Cáo trạng tuy nhiên sau khi nghe cáo trạng đại diện Viện kiểm sát công bố, bị cáo cũng nhất trí và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân thị xã Thuận Thành duy trì công tố tại phiên toà hôm nay sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, các chứng cứ, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên tội danh như Cáo trạng đã truy tố và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 14 đến 20 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy còn lại sau giám định. Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã thể hiện rõ:

Hồi 14 giờ 35 phút ngày 15/4/2023, tại đường khu dân cư thuộc địa phận khu phố Tư Thế, phường Trí Quả, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Nguyễn Văn L có hành vi tàng trữ trái phép tổng khối lượng 0,4032 gam ma túy Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước. Chính vì vậy phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[2] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, tuổi đời còn trẻ nhưng không chịu lao động, làm ăn chân chính mà ham chơi đua đòi sử dụng ma túy dẫn đến phạm vào tội nghiêm trọng nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy khi lượng hình cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự phạt bị cáo một khoản tiền sung công quỹ Nhà nước. Nhưng xét mục đích bị cáo tàng trữ ma tuý để sử dụng, không nhằm mục đích thu lợi nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho L do L không biết rõ họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh nên không xem xét xử lý được là phù hợp.

[3] Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự để xử lý số vật chứng của vụ án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà hôm nay là có căn cứ. Cụ thể:

Đối với số lượng ma túy còn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cầm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu đen, gắn sim số 0975.449.xxx và 0386.067.xxx. Xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tôi của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[4] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

 Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Nguyễn Văn L 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/4/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì thư có dấu niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh. Bên ngoài phong bì có ghi “ Mẫu vật còn lại sau giám định kèm theo Kết luận giám định số 889/KLGĐ- PC09 ngày 17/4/2023 của Phòng PC 09”.

Trả lại Nguyễn Văn L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu đen, gắn 02 sim số: 0975.449.xxx và 0386.067.xxx nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 28/8/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thuận Thành với Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

35
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 58/2023/HS-ST

Số hiệu:58/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuận Thành - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 30/08/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về