Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 57/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL, TỈNH HƯNG YÊN

BẢN ÁN 57/2024/HS-ST NGÀY 05/11/2024 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 05 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện TL mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST- HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Công Ch, sinh năm 1986, tại: xã HN, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: Thôn NC, xã HN, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Bố: Không có; Mẹ: Bùi Thị T, sinh năm 1952; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không;

Tiền án:

- Bản án số: 09/2012/HSST ngày 20/02/2012 của Toà án nhân dân thành phố H xử phạt Bùi Công Ch 01 năm 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/08/2013, chưa chấp hành án phí);

- Bản án số: 32/2014/ HS-ST ngày 15/7/2014 của Toà án nhân dân thành phố H xử phạt Bùi Công Ch 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/12/2015, chấp hành xong án phí ngày 15/9/2020, đến ngày 25/02/2017 Chtiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới);

- Bản án số: 45/2017/HS-ST ngày 12/9/2017 của Toà án nhân dân thành phố H xử phạt Bùi Công Ch 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/05/2018, chưa chấp hành án phí và các quyết định khác của bản án);

- Bản án số: 05/2019/HS-ST ngày 28/02/2019 của Toà án nhân dân thành phố H xử phạt Bùi Công Ch 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/12/2015, chấp hành xong án phí và các quyết định khác của bản án ngày 05/6/2020, ngày 15/9/2020 và ngày 18/9/2020, đến ngày 21/02/2021 Chtiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới);

- Bản án số: 31/2021/HSST ngày 17/8/2021 của Toà án nhân dân huyện TL xử phạt Bùi Công Ch 02 năm 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/12/2023, chưa chấp hành xong án phí và các quyết định khác của bản án).

Nhân thân:

- Bản án số: 03/HSST ngày 28/3/2003 của Toà án nhân dân huyện TL xử phạt Bùi Công Ch 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản;

- Bản án số: 26/HSST ngày 29/12/2003 của Toà án nhân dân huyện TL xử phạt Bùi Công Ch 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản;

- Ngày 23/04/2006 bị Công an thị xã Hưng Yên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh nhau.

- Ngày 22/3/2021 bị Công an huyện Tiên Lữ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý Bị cáo tạm giữ từ ngày 05/6/2024 đến ngày 08/6/2024 Chtạm giam; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người chứng kiến:

- Anh Đào Văn H, sinh năm 1978“Vắng mặt”.

- Anh Đào Quốc H1, sinh năm 1983“Vắng mặt”.

Cùng địa chỉ: Thôn NL, xã TS, huyện TL, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ch là đối tượng nghiện chất ma tuý từ lâu. Khoảng 12 giờ ngày 05/6/2024, Ch một mình đi bộ từ nhà đến xã TS, huyện TL, tỉnh Hưng Yên để tìm mua ma tuý về sử dụng. Khi đến khu vực một ngã tư (Ch không biết thuộc địa phận thôn nào) Ch gặp một thanh niên lạ mặt đeo khẩu trang cao khoảng 1,6 m, dáng người gầy, mặc quần áo màu đen (Ch gặp lần đầu nên không biết người này tên gì, ở đâu). Ch hỏi nam thanh niên lạ mặt “có ma tuý không, bán em” thì người này trả lời “có”. Ch lấy một tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng đưa cho nam thanh niên để mua ma tuý thì người thanh niên cầm tiền rồi đưa cho Ch01 gói giấy. Ch biết bên trong gói giấy đó chứa ma tuý nên cầm trên tay rồi đi bộ ra ngã tư đường để tìm chỗ vắng sử dụng. Khi Ch vừa đi đến cổng Miếu NL thì bị tổ công tác của Công an xã TS tiến hành kiểm tra. Do sợ hãi nên Ch đã thả gói ma tuý xuống nền đường ngay gần vị trí Ch đứng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản, thu giữ vật chứng liên quan và đưa Ch về trụ sở để làm việc.

Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy bên trong có chưa chất màu trắng dạng cục và bột, niêm phong ghi M1.

Tại bản kết luận giám định số 418/KL-KTHS(MT) ngày 08/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong kí hiệu M1, có khối lượng là 0,300g, là ma túy, loại Heroine.

Sau giám định hoàn lại một phong bì niêm phong ghi số: 418/KL- KTHS(MT), bên trong chứa: 0,286g ma tuý, loại Heroine trong niêm phong ghi ký hiệu M1; 01 mảnh giấy màu trắng gói ma tuý và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

Quá trình điều tra, Bùi Công Ch đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Cáo trạng số: 51/CT-VKSTL ngày 16/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên đã truy tố Bùi Công Ch về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

* Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ thái độ ăn năn hối cải.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL:

Giữ nguyên nội dung bản cáo trạng. Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Công Ch phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Công Ch từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 05/6/2024.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu cho tiêu hủy một phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định ghi số: 418/KL-KTHS(MT), bên trong chứa: 0,286g ma tuý, loại Heroine trong niêm phong ghi ký hiệu M1; 01 mảnh giấy màu trắng gói ma tuý và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện TL; Viện kiểm sát và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện TL trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp khách quan với Biên bản bắt người phạm tội quả tang được lập hồi 12 giờ 45 phút ngày 05/6/2024; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ lập hồi 13 giờ 20 phút ngày 05/6/2024; Bản kết luận giám định số 418/KL-KTHS(MT) ngày 08/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên; Lời khai của bị cáo; Lời khai của người chứng kiến; Vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 05/6/2024 tại khu vực Miếu Nội Lăng, thuộc thôn NL, xã TS, huyện TL, tỉnh Hưng Yên, Bùi Công Ch đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,300g ma túy, loại Heroine, nhằm mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Hành vi trên của Bùi Công Ch đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại bản án số 31/2021/HSST ngày 17/8/2021 của Toà án nhân dân huyện Tiên Lữ đã áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” và xử phạt Bùi Công Ch 02 năm 09 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Chchấp hành xong hình phạt tù ngày 03/12/2023, ngày 05/6/2024 Chtiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý khi chưa được xoá án tích. Do vậy hành vi phạm tội của Bùi Công Ch thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện TL truy tố bị cáo về tội danh và áp dụng điều luật như Cáo trạng đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý chất ma túy, xâm phạm đến trật tự xã hội, gây khó khăn cho Nhà nước trong việc đẩy lùi các loại tội phạm về ma túy, là nguyên nhân phát sinh một số loại tội phạm khác. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, biết rõ tác hại của ma túy cũng như hậu quả và hệ lụy xấu của việc sử dụng chất ma túy để lại đối với sức khỏe, kinh tế của chính bản thân người nghiện, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố tình tang trư ma tuy đê sư dung . Vì vậy cần xét xử nghiêm minh, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng và là đối tượng nghiện ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,286g ma túy, loại Heroine hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành; 01 mảnh giấy màu trắng gói ma tuý và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định là vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Các vấn đề khác:

Đối với người bán ma tuý bị cáo không biết rõ tên tuổi, địa chỉ người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác cần giải quyết trong vụ án là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Công Ch phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Bùi Công Ch 06 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 05/6/2024.

[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu cho tiêu hủymột phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định ghi số: 418/KL-KTHS(MT), bên trong chứa: 0,286g ma tuý, loại Heroine trong niêm phong ghi ký hiệu M1; 01 mảnh giấy gói màu trắng gói và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

(Số lượng, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Quyết định Chuyển vật chứng số 45/QĐ-VKS-TL ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TL, tỉnh Hưng Yên).

[3] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo Bùi Công Ch phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

66
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 57/2024/HS-ST

Số hiệu:57/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tiên Lữ - Hưng Yên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:05/11/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về