TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU - TỈNH GIA LAI
BẢN ÁN 55/2024/HS-ST NGÀY 28/03/2024 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Ngày 28 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2024/TLST-HS ngày 06/02/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-HS ngày 28/02/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh ngày 22/6/1994 tại Thanh Hoá; Nghề nghiệp: Làm nông; Nơi đăng ký HKTT: Thôn C, xã Đ, huyện S, tỉnh T; Nơi cư trú: Đường C, phường I, thành phố P, tỉnh G; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị L; Bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Tại Bản án số 166/2020/HSST ngày 17/12/2020 bị Toà án nhân dân thành phố Pleiku xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tiền sự: không; Về nhân thân: Tại Bản án số 22/2014/HSST ngày 23/01/2014 bị Toà án nhân dân thành phố Pleiku xử phạt 06 năm tù về tội “Môi giới mại dâm”.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/10/2023 đến ngày 08/11/2023, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố Pleiku. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người chứng kiến: Ông Võ Hoàng H, sinh năm 1975; Địa chỉ: 01 đường C, phường I, thành phố P, tỉnh G. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn L sử dụng chất ma túy từ khoảng thời gian đầu năm 2020. Qua các mối quan hệ xã hội, L biết tại khu vực hẻm số 112 đường Trường Chinh, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai có người bán ma túy. Vào khoảng 19 giờ ngày 29/10/2023, L đón xe thồ của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch; không nhớ biển số xe) đến địa điểm trên, chờ một lúc thì thấy có một người đàn ông đi qua đi lại, nên L dò hỏi và được người này giới thiệu tên Đ2 . L hỏi mua của Đ2 4.000.000 đồng ma túy loại Methamphetamine thì được Đ2 đưa cho 02 túi nilon (dạng túi kít) chứa ma tuý. L coi thấy ít nên thắc mắc số lượng ít thì được Đ2 đưa thêm 03 gói nilon nhỏ chứa ma tuý nữa. Mua được ma tuý, L đem về cất giấu dưới nệm tại phòng số 4, nhà trọ số 01 đường Châu Văn Liêm, Tổ 9, phường Ia Kring, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai (là nhà trọ của anh Võ Hoàng H3 , sinh năm 1975, cho L thuê ở). Đến khoảng 08 giờ 15 phút ngày 30/10/2023, L lấy toàn bộ số ma tuý trên cất giấu vào túi quần bên phải mang trên người để đi làm, với mục đích khi cần thì lấy ra sử dụng. Khi L vừa ra khỏi cửa phòng trọ, thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an thành phố Pleiku phối hợp với Công an phường Ia Kring bắt quả tang; thu giữ vật chứng, gồm: 02 túi nilon (dạng túi kít) và 03 gói nilon bên trong đều chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (được niêm phong theo quy định) và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng kèm sim số.
Tại Bản Kết luận giám định số 958/KL-KTHS ngày 07/11/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai, kết luận: “Chất màu trắng dạng tinh thể trong 02 (hai) túi nilon và 03 gói nilon được niêm phong trong bì công văn (mô tả tại mục Mẫu cần giám định) đều là ma tuý, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 3,7915 gam”.
Tại bản Cáo trạng số: 50/CT-VKS ngày 05/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, 38, 50 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù; Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền; Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy bì công văn ghi số 958/PC09 ngày 07/11/2023, có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai và 01 sim số; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Sam sung màu trắng; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Pleiku, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án do đó đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 30/10/2023, tại tại phòng số 4, nhà trọ số 01 đường Châu Văn Liêm, Tổ 9, phường Ia Kring, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, bị cáo Nguyễn Văn L đang tàng trữ 3,7915 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi đó của bị cáo Nguyễn Văn L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo đã bị kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sư quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[4] Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đặc điểm về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục và răn đe.
[5] Xét bị cáo phạm tội không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng:
- 01 (một) bì công văn ghi số 958/PC09 ngày 07/11/2023, có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động Sam sung màu trắng kèm sim số không liên quan gì đến việc phạm tôi nên cần trả lại cho bị cáo.
[7] Đối với đối tượng tên Đ2 là người mà bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 29/10/2023, quá trình điều tra do bị cáo không biết rõ nhân thân, lai lịch, không xác định được số điện thoại của Đ2 nên chưa có căn cứ điều tra, xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào xác định được sẽ xem xét và xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Đối với anh Võ Hoàng H3 là chủ nhà trọ số 01 đường Châu Văn Liêm, Tổ 9, phường Ia Kring, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai: Việc L tàng trữ ma túy tại phòng trọ thì anh H3 không biết nên không có căn cứ xử lý đối với anh H3 về hành vi không tố giác tội phạm hoặc chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 04 (Bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (30/10/2023).
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Tịch thu tiêu hủy một bì công văn ghi số 958/PC09 ngày 07/11/2023, có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Sam sung màu trắng kèm sim số.
(Các vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, đặc điểm, số lượng, chủng loại theo như biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/3/2024 giữa Công an thành phố Pleiku và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, áp dụng khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (28/3/2024), bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 55/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 55/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Pleiku - Gia Lai |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 28/03/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về