Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 54/2024/HS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 54/2024/HS-ST NGÀY 30/05/2024 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng và tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an quận H, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 46/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T1, sinh ngày 18/12/1988 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: số C đường H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 và con bà Lê Thị X; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: 01 tiền án: Bản án sơ thẩm số 67/2020/HS-ST ngày 25/9/2020, Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử 16 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 08/9/2023 đến ngày 16/9/2023 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Cù Minh C; vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Tùng C1; vắng mặt.

3. Anh Nguyễn Văn V; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 07/9/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Nguyễn Văn T1 một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter BKS 16N6-8548 đi từ nhà đến khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng gặp và hỏi mua của một người phụ nữ không quen biết (chưa xác định được nhân thân lai lịch) 7.000.000 đồng ma túy “đá”. T1 đưa cho người phụ nữ này 2.000.000 đồng tiền mặt và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng có lắp sim số 0904.xxxxx6 của T1 để trả tiền mua ma túy. Người phụ nữ này kiểm tra điện thoại và đồng ý mua lại với giá 5.000.000 đồng. Sau khi thỏa thuận xong, người này đưa cho T1 01 túi nilon kích thước 7x8 cm bên trong có ma túy “đá”. T1 nhận và cất số ma túy vừa mua được vào trong túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi đi về nhà. Sau khi ăn cơm xong, T1 điều khiển xe mô tô BKS 16N6-xxxx đi tìm chỗ sử dụng ma túy. Trên đường đi, T1 gặp Cù Minh C, sinh năm 1998, địa chỉ: số F P, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng đang đi bộ tại khu vực ngã 6 đường C, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng. T1 rủ C lên xe để T1 chở đi. C đồng ý. Khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày, tại khu vực trước cửa Nhà nghỉ M, địa chỉ: ngõ A N, tổ G, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng, T1 và C bị tổ công tác Công an phường N kiểm tra, phát hiện, thu giữ bên trong túi quần phía trước bên trái mà T1 đang mặc 01 túi nilon kích thước 7x8 cm bên trong có ma túy “đá”. Ngoài ra còn thu giữ của T1 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đen BKS 16N6xxxx; 01 ví da màu nâu bên trong có 01 thẻ CCCD số 03108800xxxx mang tên Nguyễn Văn T1 và số tiền 300.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên. Ngoài ra, T1 còn khai: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter BKS 16N6-xxxx là do T1 mượn của anh Trần Trung K, sinh năm 1997, trú tại: thị trấn T, huyện A, thành phố Hải Phòng. Toàn bộ số ma túy bị Cơ quan Công an thu giữ là ma túy T1 mua về để một mình sử dụng cho bản thân. T1 không nói cho Cù Minh C biết việc đang cất giấu ma túy trong người cũng như không rủ C sử dụng ma túy. Mục đích T1 rủ C đi cùng là để khi T1 vào Nhà nghỉ M thì C sẽ điều khiển xe mô tô về nhà cho T1, do xe mô tô này là xe của T1 đi mượn.

Tại cơ quan điều tra, Cù Minh C khai: Khi C đang đi bộ ở khu vực ngã 6 đường C, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng thì T1 điều khiển xe mô tô đi đến và rủ C lên xe đi cùng. C và T1 không hẹn gặp nhau từ trước. Trên đường đi, T1 không nói gì về việc cất giấu trái phép ma túy trong người cũng như không rủ C cùng sử dụng ma túy nên đến khi bị lực lượng công an dừng xe kiểm tra thì C mới biết T1 có ma túy.

Tại Kết luận giám định số 716/KL-KTHS ngày 12/9/2023 của Phòng K1, Công an thành phố H kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 7,86 gam, là loại Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số 50/CT-VKS ngày 23/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã truy tố Nguyễn Văn T1 về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo: Lượng ma túy bị cáo cất giấu trái phép để sử dụng mà Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An truy tố là 7,86 gam loại Methamphetamine. Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa vì vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn T1: Từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 bị giấy, dấu niêm phong số 716MT/PC09 niêm phong số ma túy và vỏ bao gói còn lại sau giám định; Trả lại cho bị cáo 01 ví da màu nâu bên trong có 01 thẻ CCCD số 03108800xxxx mang tên Nguyễn Văn T1 không sử dụng vào việc phạm tội; Trả lại cho bị cáo số tiền 300.000 đồng không sử dụng vào việc phạm tội, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, BKS16N6-xxxx, tài liệu điều tra xác định chủ sở hữu xe là ông Ngô Văn V1, sinh năm 1976, trú tại: thôn K, xã M, huyện A, thành phố Hải Phòng. Năm 2022, ông V1 đã bán chiếc xe này cho anh Trần Trung K, sinh năm 1997, trú tại: thị trấn T, huyện A, thành phố Hải Phòng). Anh K không biết việc T1 mượn xe để thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên ngày 25/3/2024, Cơ quan CSĐT - Công an quận H đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe mô tô này cho anh Trần Trung K.

Cù Minh C không biết việc Nguyễn Văn T1 tàng trữ trái phép chất ma túy nên không có căn cứ xử lý Cù Minh C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Cù Minh C vào ngày 02/9/2023, Cơ quan CSĐT - Công an quận H đã có Công văn số 480 ngày 15/3/2024 chuyển hồ sơ đến Công an phường V, quận N, thành phố Hải Phòng để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn T1 vào khoảng đầu tháng 9 năm 2023, Công an quận H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 32/QĐ-XPHC ngày 01/4/2024 đối với Nguyễn Văn T1.

Đối với người bán ma túy cho Nguyễn Văn T1 và Cù Minh C tại khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng, qua điều tra không xác định được căn cước, lai lịch nên chưa có cơ sở để xử lý.

Bị cáo không tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, phần nói lời sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn, hối hận. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 07/9/2023, tại khu vực trước cửa Nhà nghỉ M; địa chỉ: ngõ A N, tổ G, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Văn T1 có hành vi cất giấu trái phép chất 7,86 gam, là loại Methamphetamine bên trong túi quần phía trước bên trái mà T1 đang mặc với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an phường N, quận H, thành phố Hải Phòng phát hiện, bắt quả tang. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của Nguyễn Văn T1 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố và kết luận là có căn cứ, đúng pháp luật.

- Về tình tiết định khung hình phạt:

[3] Lượng ma túy mà bị cáo Nguyễn Văn T1 cất giấu trái phép là 7,86 gam loại Methamphetamine. Do đó, bị cáo bị xét xử theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng quy định pháp luật.

- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4] Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt:

[5] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an chung và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Do đó, cần xét xử nghiêm theo quy định của pháp luật. Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân bị cáo cần xử bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đảm bảo tính răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Bị cáo Nguyễn Văn T1 không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

[7] Đối với 01 phong bì thư có dấu niêm phong số 716MT/PC09 của Phòng K1 Công an thành phố H bên trong có số ma túy còn lại sau giám định thu giữ của Nguyễn Văn T1: Đây là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

[8] Đối với 01 ví da màu nâu bên trong có 01 thẻ CCCD số 03108800xxxx mang tên Nguyễn Văn T1 thu giữ của Nguyễn Văn T1 và số tiền 300.000 đồng. Ví da màu nâu, thẻ CCCD và số tiền 300.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên tạm giữ lại số tiền 300.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

[9] Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, BKS 16N6-xxxx, tài liệu điều tra xác định chủ sở hữu xe là ông Ngô Văn V1. Năm 2022, ông V1 đã bán chiếc xe này cho anh Trần Trung K. Khi T1 mượn xe, Anh K không biết việc T1 mượn xe để thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên ngày 25/3/2024, Cơ quan CSĐT - Công an quận H đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe mô tô này cho anh Trần Trung K theo đúng quy định của pháp luật.

[10] Cù Minh C không biết việc Nguyễn Văn T1 tàng trữ trái phép chất ma túy nên không có căn cứ xử lý Cù Minh C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

[11] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Cù Minh C vào ngày 02/9/2023, Cơ quan CSĐT - Công an quận H đã có Công văn số 480 ngày 15/3/2024 chuyển hồ sơ đến Công an phường V, quận N, thành phố Hải Phòng để xử lý theo quy định của pháp luật.

[12] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn T1 vào khoảng đầu tháng 9 năm 2023, Công an quận H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 32/QĐ-XPHC ngày 01/4/2024 đối với Nguyễn Văn T1 theo quy định của pháp luật.

[13] Đối với người bán ma túy cho Nguyễn Văn T1 và Cù Minh C tại khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn, L, Hải Phòng, qua điều tra không xác định được căn cước, lai lịch nên tiếp tục làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

[14] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[15] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, Tuyên bố Nguyễn Văn T1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T1 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/9/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư có dấu niêm phong số 716MT/PC09 của Phòng K1 Công an thành phố H.

Trả lại cho bị cáo: 01 ví da màu nâu bên trong có 01 thẻ CCCD số 03108800xxxx mang tên Nguyễn Văn T1 và số tiền 300.000 đồng. Nhưng tạm giữ lại số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0004809 ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng để đảm bảo thi hành án.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/4/2024 tại Chi Cục thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng).

- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn T1 phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

54
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 54/2024/HS-ST

Số hiệu:54/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Hải An - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/05/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về