TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA, TỈNH CAO BẰNG
BẢN ÁN 46/2023/HS-ST NGÀY 07/11/2023 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Ngày 07 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2023/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Bế Thái D, sinh ngày 20/01/1990 tại Đức Hồng, Trùng Khánh, Cao Bằng; nơi ĐKHKTT: Xóm S K, xã Đ H, huyện T K, tỉnh C B; nơi ở hiện tại: Xóm B M, xã N C, huyện T K, tỉnh C B; nghề nghiệp: Không nghề; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bế Tuấn T và bà Triệu Thị C; có vợ là Trần Thị N và có 03 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2019 Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 08/02/2021 bị Uỷ ban nhân dân xã Đức Hồng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 112/QĐ-XPVPHC về hành vi sử dụng các loại vũ khí, công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép (sử dụng súng hơi để săn bắn), chấp hành xong ngày 08/02/2021.
Bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Quảng Hòa từ ngày 13/6/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 00 phút ngày 13/6/2023, tổ công tác của Công an huyện Quảng Hòa thực hiện nhiệm vụ đảm bảo an ninh trật tự tại thị trấn Quảng Uyên, huyện Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng. Khi đi đến Km 311+200 Quốc lộ 3 thuộc tổ dân phố Hoà Nam, thị trấn Quảng Uyên thì phát hiện Bế Thái D, trú tại xóm S K, xã Đ H, huyện T K, C B đang bước bộ theo hướng từ thị trấn Quảng Uyên đi thành phố Cao Bằng có biểu hiện nghi vấn, nên đã yêu cầu kiểm tra và phát hiện trong túi quần D đang mặc 01 (một) bao thuốc lá màu vàng bên trong có 01 (một) gói chứa các cục chất bột màu trắng và vụn màu trắng. Bế Thái D khai nhận số chất cục, bột màu trắng cơ quan Công an thu giữ là ma tuý, loại Heroine của D mua về để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ gói chứa các cục chất bột màu trắng; 02 xilanh có gắn kim tiêm đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI loại màn hình cảm ứng, rồi đưa người cùng tang vật về trụ sở Công an huyện Quảng Hoà để điều tra làm rõ.
Hồi 11 giờ 30 phút cùng ngày, Công an huyện Quảng Hoà tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bế Thái D tại xóm B M, xã N C, huyện T K, tỉnh C B nhưng không phát hiện, tạm giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan.
Cùng ngày 13/6/2023, Công an huyện Quảng Hoà tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng vật chứng của vụ án, tổng khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ được của Bế Thái D là 0,643g (không phẩy sáu bốn ba gam). Sau khi cân xác định khối lượng chất bột màu trắng xong lực lượng chức năng đã tiến hành niêm phong lại trong phong bì để gửi giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 298/KL-KTHS ngày 21/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại Heroine (Heroin) có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.
Tại cơ quan điều tra Bế Thái D khai nhận, bản thân sử dụng chất ma tuý Heroine từ đầu năm 2023 đến nay, hình thức sử dụng là chích. Khoảng 04 giờ sáng ngày 13/6/2023 D đang ở nhà của vợ là Trần Thị N tại xóm B M, xã N C, huyện T K thì lên cơn thèm ma tuý; D lấy tiền rồi một mình đi bộ ra ngoài đường, sau đó đi nhờ xe của người đi đường đến xóm Lũng Phiắc, xã Đàm Thuỷ, huyện Trùng Khánh để tìm mua ma tuý. Khi đến xóm Lũng Phiắc thì gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết họ tên, địa chỉ, D đến gần nói "lấy cho một triệu", người đàn ông nói "đợi tí" rồi D đưa cho người đàn ông 02 tờ tiền mệnh giá 500.000đ, người đàn ông nhận tiền rồi đi. Khoảng 20 phút sau, người đó quay lại và đưa cho D 01 (một) gói ma tuý được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ. Về đến nhà vợ, D tách một phần ma tuý vừa mua được ra sử dụng bằng hình thức chích, số ma túy còn lại D cho vào bao thuốc lá rồi để túi ở quần đang mặc. Sau đó, D bắt xe bus đi ra thị trấn Quảng Uyên để tìm mua dao, khi đang bước bộ theo hướng đi thành phố Cao Bằng thì bị lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. D mua số ma tuý trên về để sử dụng cho bản thân, không có mục đích gì khác.
Tại bản Cáo trạng số 47/CT-VKSQH ngày 05/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng đã truy tố Bế Thái D về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận nội dung bản Cáo trạng phản ánh đúng các hành vi của mình và biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Bế Thái D như Cáo trạng. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Bế Thái D từ 01 đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do bị cáo nghiện ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng, áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu huỷ ba phong bì, trong đó một phong bì mặt trước ghi “Số 298/GĐ-KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Bế Thái D ngày 13/6/2023”, bên trong có mẫu còn lại sau giám định; một phong bì mặt trước ghi: “02 xilanh tạm giữ ngày 13/6/2023”; một phong bì mặt trước ghi “giấy gói và vỏ niêm phong ban đầu, vỏ bao thuốc lá” của bị cáo Bế Thái D. Trả chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REDMI, loại màn hình cảm ứng cho bị cáo Bế Thái D. Bị cáo D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến trong phần tranh luận. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Xét lời khai của bị cáo Bế Thái D tại phiên tòa phù hợp Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 08 giờ ngày 13/6/2023 tại Km 311+200 Quốc lộ 3 thuộc tổ dân phố Hoà Nam, thị trấn Quảng Uyên, huyện Quảng Hòa, bị cáo Bế Thái D bị lực lượng chức năng bắt quả tang khi đang tàng trữ 01 gói Heroine có khối lượng 0,643g (không phẩy sáu bốn ba gam); số ma tuý này là của D mua với một người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ tại xóm Lũng Phiắc, xã Đàm Thuỷ, huyện Trùng Khánh với số tiền là 1.000.000đ (Một triệu đồng); mục đích D mua ma túy về để sử dụng cho bản thân.
Như vậy, hành vi của bị cáo Bế Thái D đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền kiểm soát và quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo biết tác hại của ma túy và các quy định của pháp luật về phòng chống ma túy nhưng do có lối sống buông thả, nghiện ma túy, ý thức chấp hành pháp luật kém nên cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy mà còn là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Chính vì vậy, Nhà nước đã có chế tài nghiêm khắc đối với loại tội phạm này. Do đó, cần phải xử lý bị cáo nhiêm minh trước pháp luật.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người nghiện ma túy; có nhân thân, ngày 08/02/2021 bị Uỷ ban nhân dân xã Đức Hồng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 112/QĐ-XPVPHC về hành vi sử dụng các loại vũ khí, công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép (sử dụng súng hơi để săn bắn), chấp hành xong ngày 08/02/2021.
Tình tiết tăng nặng không có.
Tình tiết giảm nhẹ, tại cơ quan điều tra và ở phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có bố là Bế Tuấn Tú được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo, sau khi xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy để ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới thì việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định là cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.
[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát Quảng Hòa tại phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo, cũng như các vấn đề khác liên quan trong vụ án phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không phạt hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định của pháp luật.
[8] Đối với người đàn ông bán Heroine cho bị cáo D vào ngày 13/6/2023 theo lời khai của D, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên không đủ căn cứ để mở rộng điều tra.
[9] Về vật chứng: Tang vật vụ án kèm theo hồ sơ hiện nay Chi cục Thi hành án huyện Quảng Hòa đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/10/2023. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử lý như sau:
9.1- Có ba phong bì còn niêm phong theo luật định, trong đó một phong bì mặt trước ghi “Số 298/GĐ-KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Bế Thái D ngày 13/6/2023” bên trong có mẫu còn lại sau giám định; một phong bì mặt trước ghi: “02 xilanh tạm giữ ngày 13/6/2023”; còn một phong bì mặt trước ghi “giấy gói và vỏ niêm phong ban đầu, vỏ bao thuốc lá của Bế Thái D”. Do vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và các vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu huỷ.
9.2- Còn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REDMI, loại màn hình cảm ứng là của bị cáo Bế Thái D, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại điện thoại trên cho bị cáo.
[10] Về án phí: Bị cáo Bế Thái D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Bị cáo Bế Thái D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Bế Thái D 14 (Mười bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 13/6/2023.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
1- Tịch thu tiêu huỷ ba phong bì, trong đó một phong bì mặt trước ghi “Số 298/GĐ-KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Bế Thái D ngày 13/6/2023” bên trong có mẫu còn lại sau giám định; một phong bì mặt trước ghi: “02 xilanh tạm giữ ngày 13/6/2023”; một phong bì mặt trước ghi “giấy gói và vỏ niêm phong ban đầu, vỏ bao thuốc lá” của bị cáo Bế Thái D.
2- Trả chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REDMI, loại màn hình cảm ứng (để trong phong bì) cho bị cáo Bế Thái D.
Xác nhận, bốn phong bì phong còn niêm phong theo luật định và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Hòa đang quản lý các vật chứng trên.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Bị cáo Bế Thái D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 46/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 46/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Quảng Hòa - Cao Bằng |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 07/11/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về