TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐIỆN BIÊN
BẢN ÁN 42/2025/HS-ST NGÀY 18/02/2025 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Hạng A S; sinh ngày 17 tháng 3 năm 1974 tại huyện N, tỉnh Điện Biên; Nơi thường trú: Bản H, xã P, huyện N, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số Căn cước công dân: 011074003xxx, cấp ngày 19/8/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an; Con ông Hạng A Ch (đã chết) và bà Lầu Thị S2 (đã chết); Bị cáo có vợ là Lầu Thị C và 08 người con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 20/4/2011 bị Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Điện Biên xử phạt 28 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, tại bản án số 34/2011/HSST, đã được xóa án tích; Ngày 14/4/2015 bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời 24 tháng, tại Quyết định số 04/QĐ- TA, đã được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính này; Ngày 07/5/2021 bị Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Điện Biên xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 26/2021/HS-ST, đã được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/9/2024, sau đó bị tạm giam từ ngày 02/10/2024 cho đến nay, có mặt.
2. Họ và tên: Lầu Thị C; sinh ngày 13 tháng 6 năm 1978 tại huyện N, tỉnh Điện Biên; Nơi thường trú: Bản H, xã P, huyện N, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số Căn cước công dân: 011178001xxx, cấp ngày 24/4/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an; Con ông Lầu A S1 (đã chết) và bà Vàng Thị M (đã chết); Bị cáo có chồng là Hạng A S và 08 người con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Nhân thân: Bị cáo chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/9/2024, sau đó bị tạm giam từ ngày 02/10/2024 cho đến nay, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Hạng A S và bị cáo Lầu Thị C: Bà Giàng Thị N, sinh năm 1987, là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 17 giờ 00 phút, ngày 24/9/2024, tổ công tác Công an xã Q phối hợp với Đồn Biên phòng Q đang làm nhiệm vụ tại khu vực bản R, xã Q, huyện N, tỉnh Điện Biên, phát hiện Hạng A S đang điều khiển xe mô tô Wave RSX không có biển kiểm soát, chở vợ là Lầu Thị C đi từ hướng bản R, xã Q về phía trung tâm xã Q có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật nên đã yêu cầu cả 02 về Trạm Y tế xã Q để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, nữ cán bộ Trạm Y tế xã Q phát hiện bên trong âm đạo của Lầu Thị C có 01 gói nilon màu hồng, miệng gói được hơ lửa dán kín bên trong có chứa các cục chất bột dạng nén màu trắng đục nghi là Heroine. Tổ công tác đã đưa Lầu Thị C và Hạng A S cùng vật chứng về trụ sở Công an xã Q và mời người chứng kiến, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) gói nilon màu hồng, miệng gói được hơ lửa dán kín bên trong có chứa các cục chất bột dạng nén màu trắng đục, 01 (một) xe mô tô Wave RSX màu đỏ đen, đã cũ, đã qua sử dụng, không gắn biển kiểm soát, 01 (một) biển kiểm soát 27B1- xxxxx (được Hạng A S cất trong cốp xe mô tô).
Quá trình điều tra Hạng A S và Lầu Thị C khai nhận như sau: Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 24/9/2024, Hạng A S và vợ là Lầu Thị C đang gom số măng đào được để tại 01 lán nương gần Mốc 63 Biên giới Việt Nam – Lào thuộc bản R, xã Q, huyện N, tỉnh Điện Biên, thì gặp 01 người đàn ông dân tộc Thái không quen biết hỏi mua măng. Qua trao đổi Hạng A S và Lầu Thị C đã đổi 60 kg măng tươi của 02 vợ chồng (tương đương với giá 120.000 đồng) lấy 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu hồng của người đàn ông này. Sau khi mua được Heroine, S dùng móng tay cấu 01 ít để cả 02 cùng sử dụng, số còn lại S gói vào vỏ nilon cũ rồi hơ lửa dán kín. Sau khi sử dụng Heroine xong, C lấy gói Heroine mà S đã gói lại, cất giấu trong âm đạo của C. Đến 17 giờ 40 phút ngày 24/9/2024, khi Hạng A S đang điều khiển xe mô tô Wave RSX không gắn biển kiểm soát, chở theo Lầu Thị C đi từ bản R, xã Q về hướng trung tâm xã Q thì gặp tổ công tác phát hiện, bắt quả tang.
Tại Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 25/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N xác định: Chất bột dạng nén màu trắng đục thu giữ của Lầu Thị C và Hạng A S có khối lượng 0,91 (không phẩy chín mươi mốt) gam, gửi toàn bộ làm mẫu giám định.
Tại Kết luận giám định số 1532/KL-KTHS, ngày 01/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: “Vật chứng thu giữ của Lầu Thị C và Hạng A S có khối lượng 0,91 gam chất bột dạng nén màu trắng đục là chất ma túy: Loại Heroin (Heroine).” Tại bản Cáo trạng số 05/CT-VKSNP ngày 30/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên đã truy tố các bị cáo Hạng A S và Lầu Thị C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Hạng A S và Lầu Thị C một lần nữa đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Hạng A S và Lầu Thị C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo Lầu Thị C từ 01 (một) năm 08 (tám) tháng đến 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù; đề nghị xử phạt bị cáo Hạng A S từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu 0,82 gam Heroine hoàn lại sau khi đã giám định, 01 mảnh nilon màu hồng và 01 phong bì niêm phong cũ; tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE RSX và 01 biển kiểm soát 27B1-xxxxx. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Hạng A S và bị cáo Lầu Thị C nhất trí với nội dung bản luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo. Người bào chữa cho các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nhân thân, hoàn cảnh của các bị cáo, đề nghị xử phạt các bị cáo mức thấp nhất trong đề nghị của Kiểm sát viên. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Các bị cáo Hạng A S và Lầu Thị C không có ý kiến tranh luận gì. Khi nói lời sau cùng các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi của các bị cáo:
Tại phiên tòa, các bị cáo Hạng A S và Lầu Thị C đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Vào hồi 17 giờ 40 phút, ngày 24/9/2024 tại khu vực bản R, xã Q, huyện N, tỉnh Điện Biên, các bị cáo Hạng A S và Lầu Thị C có hành vi tàng trữ trái phép 0,91 (không phẩy chín mươi mốt) gam Heroine để cùng nhau sử dụng. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra (BL 129 - 142), phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01 - 02), vật chứng thu giữ (BL 81), Kết luận giám định (BL 86) và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Không có chứng cứ nào chứng minh các bị cáo không phạm tội.
Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Hạng A S và Lầu Thị C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:… c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…”.
[2] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hành vi của các bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn huyện N, bởi vì ma túy không chỉ hủy hoại sức khỏe của con người mà còn là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác. Bản thân các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, không bị ai xúi giục.
[3] Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và vai trò của các bị cáo:
Bị cáo Hạng A S có nhân thân xấu, ngoài lần phạm tội này bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Điện Biên xử phạt 28 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, tại bản án số 34/2011/HSST, đến ngày 29/12/2012 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án, đã được xóa án tích. Ngày 14/4/2015 bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời 24 tháng, tại Quyết định số 04/QĐ- TA, đã chấp hành xong vào ngày 17/3/2017 và được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính này. Ngày 07/5/2021 bị Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Điện Biên xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 26/2021/HS-ST, đến ngày 30/4/2022 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án, đã được xóa án tích. Bị cáo Lầu Thị C có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Quá trình điều tra và phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Trong vụ án này, bị cáo Hạng A S và Lầu Thị C là vợ chồng, cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, nhưng không có sự cấu kết chặt chẽ nên chỉ là đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Hạng A S là người khởi xướng hỏi mua Heroine để cả hai bị cáo cùng nhau sử dụng. Sau đó, bị cáo C là người trực tiếp cất giấu Heroine trong âm đạo của Cú. Xét thấy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời hạn nhất định như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, để các bị cáo cải tạo bản thân và làm gương răn đe, giáo dục trong Nhân dân. Để đảm bảo thi hành án, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục tạm giam các bị cáo theo khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ, biên bản xác minh của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy, các bị cáo đều là người nghiện ma túy, có nghề nghiệp chính là làm nông nghiệp, thu nhập không ổn định, các bị cáo cũng không có tài sản riêng có giá trị nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án: Đối với vật chứng là 0,82 gam Heroine hoàn lại sau khi giám định, 01 mảnh nilon cũ, 01 phong bì niêm phong cũ, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô tô loại WAVE RSX màu sơn đỏ đen và biển kiểm soát 27B1-xxxxx, bị cáo Hạng A S sử dụng là phương tiện phạm tội, Cơ quan điều tra Công an huyện N đã xác minh nguồn gốc chiếc xe ô tô là của ông Lý A Khu, địa chỉ bản Chan 1, xã Mường Đăng, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên bán cho ông Nguyễn Hồng Thái, địa chỉ tại bản Trạm Púng, xã Quảng Lâm, huyện A, tỉnh Điện Biên, sau đó ông Thái tiếp tục bán cho bị cáo Hạng A S vào ngày 04/5/2024 nhưng các bên chưa làm thủ tục sang tên. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tịch thu sung vào ngân sách nhà nước chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE RSX màu sơn đỏ đen và biển kiểm soát 27B1-xxxxx.
[6] Xét đề nghị của người bào chữa: Tại phiên tòa người bào chữa cho các bị cáo nhất trí với nội dung Cáo trạng cũng như luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nhân thân và hoàn cảnh, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo mức thấp nhất trong đề nghị của Kiểm sát viên. Xét thấy, đề nghị của người bào chữa là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Các bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[8] Trong vụ án các bị cáo khai nhận đã mua Heroine của 01 người đàn ông dân tộc Thái tại 01 lán nương gần Mốc 63 khu vực biên giới Việt Nam – Lào thuộc bản R, xã Q, huyện N, tỉnh Điện Biên vào trưa ngày 24/9/2024. Do các bị cáo không biết tên, địa chỉ của người đàn ông này ở đâu nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không có căn cứ để điều tra, làm rõ xử lý theo quy định, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Tại phiên tòa, các bị cáo Hạng A S, Lầu Thị C đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo. Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số (dân tộc Mông) sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn là xã P, huyện N, tỉnh Điện Biên nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
[10] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự;
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hạng A S và Lầu Thị C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.
Xử phạt bị cáo Hạng A S 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 24/9/2024.
Xử phạt bị cáo Lầu Thị C 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 24/9/2024.
3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 0,82 (không phẩy tám mươi hai) gam Heroine là mẫu vật còn lại sau giám định, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 phong bì niêm phong cũ.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE RSX, màu sơn: Đỏ đen, số máy: JA31E0185629, số khung: RLHJA3107EY053692, dung tích xi lanh: 109 cm3, năm sản xuất: 2015, đã cũ, đã qua sử dụng và 01 (một) biển kiểm soát 27B1-xxxxx.
(Vật chứng được niêm phong như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện N).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Hạng A S và Lầu Thị C.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 18/02/2025./.
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý số 42/2025/HS-ST
| Số hiệu: | 42/2025/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Nậm Bồ - Điện Biên |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 18/02/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về