TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
BẢN ÁN 35/2024/HS-ST NGÀY 28/06/2024 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2024/HSST ngày 30/5/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Đinh M, tên gọi khác: không; sinh năm 1976 tại Thái Nguyên; Nơi thường trú và chỗ ở: Xóm C, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; Con ông: Trần Đức C, sinh năm 1950; con bà Trần Thị D (đã chết); Vợ: Hà Thị H, sinh năm 1980 đã ly hôn; có 01 con sinh năm 2003; Tiền sự: Không; Tiền án: Không;
Nhân thân:
+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 03/2011/HS-ST Ngày 24/01/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/01/2013 và đã thi hành xong các nghĩa vụ khác của bản án.
+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 27/2015/HS-ST ngày 13/7/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 42 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong hình phạt tù tháng 17/02/2018 và đã thi hành xong các nghĩa vụ khác của bản án.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 20/02/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên tòa).
Người chứng kiến: Ông Vũ Văn T, sinh năm 1966; Nơi thường trú và chỗ ở: Xóm M, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 50 phút ngày 20/02/2024, tại xóm M, xã P, huyện P. Tổ công tác Công an xã P trong khi đi làm nhiệm vụ đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Đình M về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ vật chứng theo quy định.
Tiến hành cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng thu giữ của M trong phong bì (ký hiệu A) có khối lượng 0,142gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định (ký hiệu A1).
Tại bản Kết luận giám định số 376/KL-KTHS ngày 28/02/2024, của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận:
- Chất bột màu trắng trong phong bì (ký hiệu A1) gửi giám định là chất ma túy; loại Heroin; có khối lượng là 0,142gam.
Tại cơ quan điều tra, Trần Đình M khai nhận: Bản thân là người nghiện ma túy. Khoảng 08 giờ, ngày 20/02/2024, M từ nhà bắt xe buýt đi đến bến xe khách T với mục đích tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến công bến xe khách T, M xuống xe buýt thì có một nam thanh niên khoảng 30 tuổi người này M không quen biết, chạy ra hỏi “mua hàng không” M trả lời “có”, M lấy số tiền 400.000đ (bốn trăm ngàn đồng) đưa cho nam thanh niên, nam thanh niên cầm tiền và đưa lại cho M 01(một) túi nilon màu trắng bên trong có 02(hai) gói chất bột màu trắng. Sau khi mua được ma túy thì M bắt xe buýt về xã P, huyện P tìm nơi vắng vẻ để sử dụng. Khi đang đi bộ thì M bị tổ công tác Công an xã P phát hiện, bắt quả tang. M đã tự nguyện giao nộp cho tổ công tác 01(một) túi nilon màu trắng, bên trong túi nilon có 02 (hai) gói chất bột màu trắng được gói bên ngoài bằng lớp giấy bạc màu vàng mà M lấy ra từ túi áo khoác bên phải đang mặc trên người. M khai nhận 02(hai) gói chất bột này là ma túy dạng Heroin, M mua về để sử dụng cho bản thân.
Vật chứng của vụ án: 02 (hai) phong bì ký hiệu A1, A2. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án huyện Phú Lương theo quy định, chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 30/CT-VKSPL ngày 28/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định truy tố Trần Đình M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến về bản cáo trạng, thừa nhận hành vi của mình và xác định việc bị truy tố xét xử là đúng người đúng tội, không bị oan.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Đình M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Đình M từ 24 đến 30 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy các bì niêm phong ký hiệu A1, A2 là ma túy và vỏ bao gói mẫu còn lại sau giám định và buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng thể hiện ăn năn hối cải và xin được xem xét mức án phù hợp nhất để sớm trở về là người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Đình M không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng đã thu được, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận trưng cầu giám định chất ma túy và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.
Xét thấy có đủ căn cứ xác định vào hồi 09 giờ 50 phút ngày 20/02/2024, xóm M, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Trần Đình M có hành vi tàng trữ trái phép 0,142 gam ma túy loại Heroin, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[3] Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định như sau: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
.....c, H1, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Xét thấy Cáo trạng số 30/CT-VKSPL ngày 28/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Trần Đình M về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người nói riêng, cũng như kinh tế xã hội nói chung nhưng vẫn phạm tội với lỗi cố ý. Trong vụ án này, bị cáo tự mình cất giấu tàng trữ trái phép chất ma túy trên người, mục đích sử dụng cho bản thân, không có đồng phạm khác. Đánh giá tính chất hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
[5] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo sinh ra lớn lên tại xóm C, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên gia đình kinh tế trung bình, không thuộc trường hợp hộ nghèo hoặc cận nghèo. Tại địa phương trước khi bị bắt, bị cáo làm công việc tự do không có nghề nghiệp ổn định. Bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma túy. Các năm 2011 và 2015 bị cáo Trần Đình M đã từng hai lần bị xét xử về tội danh tàng trữ trái phép chất ma túy. Sau khi chấp hành án trở về địa phương, do không tu dưỡng bản thân, bị cáo lại tái nghiện và dẫn đến việc phạm tội.
[6] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ tội phạm do bị cáo thực hiện, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt tù nhiều lần nhưng không sửa đổi, coi thường pháp luật, do vậy cần có hình phạt nghiêm khắc và có thời gian phù hợp để cai bỏ ma túy, cải tạo sửa đổi bản thân. Do đó Hội đồng xét xử thấy rằng mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo trong phần luận tội là phù hợp đảm bảo tính nghiêm khắc và răn đe đối với bị cáo.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định: “5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên kết quả xác minh tại địa phương cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có tài sản, không có thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về nguồn gốc số ma túy heroin bị thu giữ, Trần Đình M khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực bến xe khách T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P không có cơ sở làm rõ để xử lý.
[9] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xét thấy các vật chứng gồm: 01(một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên ngoài ghi hoàn trả 0,131 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên ngoài ghi bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A, túi nilon màu trắng và vỏ giấy gói, hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng theo quy định cần tịch thu tiêu hủy.
[10] Án phí và quyền kháng cáo: Trong vụ án này bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 326 và Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đình M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt Trần Đình M 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/02/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định:
Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng gồm: 01(một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên ngoài ghi hoàn trả 0,131 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên ngoài ghi bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A, túi nilon màu trắng và vỏ giấy gói.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 40 ngày 05/6/2024 giữa Công an huyện P với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Đình M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
Án xét xử sơ thẩm công khai. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 35/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 35/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Phú Lương - Thái Nguyên |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 28/06/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về