Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 33/2022/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 333/2022/HS-ST NGÀY 23/02/2022 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 23 tháng 02 năm 2022 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:13/2022/TLST-HS, ngày 21 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:

- Nguyễn Tuấn N, sinh năm:1985, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: đường S, phường C, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: bảo vệ; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc:Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1958; Chưa có vợ; tiền sự: Không; tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 29/9/2004 Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 6 năm tù về tội “cướp tài sản” (bản án số 1799/HSST/2004) Bị bắt tam giam ngày: 30/6/2021; (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào Lúc 10 giờ 00 phút ngày 30/6/2021, tại trước nhà số: đường Dương Quảng Hàm (đường số 1cũ), phường 5, quận Gò Vấp tổ công tác 363 Công an quận Gò Vấp kết hợp với Công an phường 5, quận Gò Vấp kiểm tra phát hiện Nguyễn Tuấn N và Bùi Nguyễn Hoàng L có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra phát hiện trong túi da màu nâu đeo trên người Nguyễn Tuấn N có một gói nylon bên trong có 23 viên nén màu xanh là ma túy tổng hợp (thuốc lắc) và 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy tổng hợp (hàng đá) nên tiến hành lập biên bản thu giữ vật chứng và đưa Nguyễn Tuấn N và Bùi Nguyễn Hoàng L về Công an phường 5 làm việc và lập biên bản phạm tội quả tang.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Gò Vấp, Nguyễn Tuấn N khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 07 giờ ngày 30/6/2021, N đang ở khu phòng trọ của N gần khu vực cảng Trường Thọ, thành phố Thủ Đức thì dùng điện thoại di động của N số 0939300094 gọi vào số điện thoại 0337571419 của Bùi Nguyễn Hoàng L và rủ L đi uống cà phê thì L đồng ý. L kêu N đi đến khu vực gần chùa Ưu Đàm, thành phố Thủ Đức thì L đến đón vì L không biết đường đến khu vực phòng trọ của N đang ở. N đồng ý và mang theo túi da màu nâu đeo trên người rồi thuê xe ôm đi đến khu vực chùa Ưu Đàm thì gặp L và L chở đi. Khi đi đến khu vực cầu Bình Lợi, trên đường Phạm Văn Đồng thì N thấy L lấy điện thoại từ trong túi quần bên trái ra nghe và làm rơi một gói nylon. L dừng xe rồi kêu N nhặt giùm gói nylon, N xuống xe nhặt gói nylon và nhìn thấy bên trong có nhiều viên nén màu xanh. Sau khi nhặt gói nylon chứa các viên nén màu xanh lên N cầm bên tay phải thì L nói N cất giữ giùm gói nylon chứa các viên nén màu xanh này vào trong túi da màu nâu của N. N đồng ý và tự tay để gói nylon chứa các viên nén màu xanh của L vào túi da màu nâu của N rồi để lên ba-ga ở giữa xe gắn máy của L đang điều khiển rồi lên xe để L chở đi. Lúc này, L có nói cho N biết gói nylon chứa các viên nén màu xanh là ma túy tổng hợp (thuốc lắc) và không nói cho N biết số lượng là bao nhiêu. Khi L chở N đến trước nhà số: đường Dương Quảng Hàm (đường số 1cũ), phường 5, quận Gò Vấp thì bị Tổ công tác 363, Công an quận Gò Vấp kết hợp với Công an phường 5, quận Gò Vấp kiểm tra phát hiện trong túi da màu nâu N đang đeo trên lưng có một gói nylon bên trong có 23 viên nén màu xanh là ma túy tổng hợp (thuốc lắc) và 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy tổng hợp (hàng đá) mà L nhờ N cất giữ như đã nêu trên. Tổ công tác đã thu giữ và niêm phong toàn bộ vật chứng, đưa N và L về Cơ quan Công an làm rõ và lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N.

Quá trình điều tra Bùi Nguyễn Hoàng L khai nhận thừa nhận Khoảng 07 giờ ngày 30/6/2021, L nhận được điện thoại của N số 0939300094 gọi vào số điện thoại 0337571419 của L rủ L cùng đi sử dụng ma túy tổng hợp (hàng đá), ma túy do N bỏ ra để cùng sử dụng, N không yêu cầu L phải góp tiền hay trả tiền để mua và cùng sử dụng ma túy thì L đồng ý. Sau đó, L một mình điều khiển xe máy biển số 59M1- 402.97 của L đi khu vực gần chợ Hiệp Bình Phước, thành phố Thủ Đức thì gặp N đang đeo trên người một túi da màu nâu rồi N lên xe để L chở đi để tìm nơi sử dụng ma túy. Khi Long chở N đến trước nhà số: đường Dương Quảng Hàm (đường số 1cũ), phường 5, quận Gò Vấp thì bị Tổ công tác 363, Công an quận Gò Vấp kết hợp với Công an phường 5, quận Gò Vấp kiểm tra phát hiện trong túi da màu nâu N đang đeo trên lưng có một gói nylon bên trong có 23 viên nén màu xanh là ma túy tổng hợp (thuốc lắc) và 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy tổng hợp (hàng đá). L khai không rõ nguồn gốc gói nylon chứa ma túy tổng hợp nêu trên đến khi bị kiểm tra phát hiện thì L mới biết và nhìn thấy.

Cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Tuấn N đối chất với Bùi Nguyễn Hoàng L làm rõ mâu thuẫn về nguồn gốc số ma túy mà Cơ quan Công an thu giữ khi bắt giữ N và L. Khi tiến hành đối chất, N và L vẫn giữ nguyên lời khai như đã nêu trên.

Đối với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì không đủ căn cứ để buộc tội Bùi Nguyễn Hoàng L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với N. Đồng thời, Bùi Nguyễn Hoàng L thừa nhận có sử dụng ma túy trước đó phu hơp vơi k ết quả xét nghiêm chât ma tuy (Dương tính) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã bàn giao Bùi Nguyễn Hoàng L cho Công an phường 5, quận Gò Vấp lập hồ sơ xử lý hành chính về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy".

Vật chứng thu giữ gồm:

- Một gói nylon bên trong có 23 viên nén màu xanh (m1) và 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (m2), đã được niêm phong bên ngoài có chữ kí ghi tên Nguyễn Tuấn N và hình dấu của Công an phường 5, quận Gò Vấp. Kết quả giám định tại Phân viện Khoa học hình sự C09B – Bộ Công an xác định. Gói nylon(m1) là ma tuý ở thể rắn có khối lượng 8,4733gam,loại Methamphetamine; Gói nylon (m2) là ma tuý ở thể rắn có khối lượng: 0,6597gam, loại Methamphetamine.

- 01 điện thoại di động hiệu RedmiC12, số sim: 0939300094 (Thu giữ của Nguyễn Tuấn N).

- 01 túi da màu nâu(Thu giữ của Nguyễn Tuấn N).

Tại bản cáo trạng số 24/CTr-VKS, ngày 14/01/2022 Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Nguyễn Tuấn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà hôm nay, Đại diện viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn N từ 06 năm đến 07 năm tù.

- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Áp dụng Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 và khoản 1, điểm a,c khoản 2, khỏan 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu và tiêu hủy lượng ma túy thu giữ, 01 túi da màu nâu.

- Trả lại cho bị cáo 01 (Một) Điện thoại di động có gắn sim số: 0939300094.

Tại phiên tòa hôm nay khi nói lời sau cùng, bị cáo Nguyễn Tuấn N nhận thức được hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì Nguyễn Tuấn N đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với bản kết luận điều tra của Công an quận Gò Vấp, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, biên bản phạm pháp quả tang và tang vật thu giữ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Đối chiếu với các Điều luật tương ứng do Bộ luật Hình sự quy định. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Nguyễn Tuấn N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, đã xâm phạm và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia, gây mất trật tự trị an xã hội. Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng.....trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng, bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật. Do bị cáo tàng trữ với trọng lượng trên 5g nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là có cơ sở. Xét nhân thân bị cáo xấu đã từng bị xử lý về hành vi “cướp tài sản” với mức án 6 năm tù (đã được xóa án). Do đó, cần thiết phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo, cần thiết có một khoảng thời gian dài cách ly bị cáo ra khỏi xã hội nhằm tạo điều kiện cho bị cáo từ bỏ con đường nghiện ngập và tiếp tục học tập phấn đấu trở thành người tốt hơn sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét các tình tiết, tại Cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên toà hôm nay bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, gia đình bản thân bị cáo thuộc thành phận lao động nghèo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

[3] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 Hội đồng xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo không có việc làm ổn định nên quyết định miễn phạt cho bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng:

- Đối với một (01) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Tuấn N và hình dấu Công an Phường 5, quận Gò Vấp bên trong có chứa ma túy còn lại sau giám định là chất nhà nước cấm lưu hành và sử dụng, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy.

- Đối với 01 Điện thoại di động có gắn sim số: 0939300094 là tư vật của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 túi da màu nâu bị cáo dùng để cất dấu ma túy không còn giá trị sử dụng Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn N 05 (năm) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/6/2021.

Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 và khoản 1, điểm a,c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu và tiêu hủy một (01) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Tuấn N và hình dấu Công an Phường 5, quận Gò Vấp và 01 (một) túi da màu nâu - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tuấn N 01 (một) chiếc điện thoại di động có gắn sim số 0939300094.

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 132/PNK, ngày 06/10/2021 của Công an quận Gò Vấp).

Áp dụng khỏan 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

319
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 33/2022/HS-ST

Số hiệu:333/2022/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 23/02/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về