TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH
BẢN ÁN 306/2022/HS-ST NGÀY 13/12/2022 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Ngày 13 tháng 12 năm 2022; tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định. Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 297/2022/TLST-HS ngày 18-11-2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 297/2022/QĐXXST-HS ngày 02-12-2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Thế H - sinh năm 1990 tại tỉnh Thái Bình; căn cước công dân số: 034090009xxx;nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Xóm 3, thôn V, xã D, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thế H (đã chết) và bà Hoàng Thị N; vợ: Vy Thị H, có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 14-9-2022 sau đó chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Quang T - sinh năm 1972 (không triệu tập phiên tòa).
2. Anh Phạm Ngọc T - sinh năm 1975 (không triệu tập phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 13-9-2022, Tổ công tác Công an phường Q, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà 9/48 ngõ A, phường Q, thành phố N phát hiện Phạm Thế H điều khiển xe máy biển kiểm soát 17N2- có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Lúc này, H thả từ tay trái xuống đất 01 gói ni lông màu trắng kích thước 2 cm x 3 cm bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (H khai là ma túy đá mua về để sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người quả tang đối với Phạm Thế H. Ngoài ra còn tạm giữ của H xe máy biển kiểm soát 17N2- đã cũ.
Bản Kết luận giám định số 1348/KL-KTHS ngày 20-9-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 gói ni lông màu trắng kích thước 2 cm x 3 cm trong phong bì thư được niêm phong thu giữ của Phạm Thế H gửi giám định là ma túy; Loại ma túy Methamphetamine; khối lượng mẫu: 0,830 gam.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Phạm Thế H khai nhận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 13-9-2022, H điều khiển xe máy biển kiểm soát 17N2- đi từ nhà đến khu vực ngõ A, phường Q, thành phố N. H dừng xe trước cửa nhà mua của 01 người phụ nữ tên Tần (không nhớ số nhà) mua qua khe cửa 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng (không biết người bán là ai). H cầm gói ma túy đi đến trước cửa số nhà 9/48 ngõ A, phường Q, thành phố N thì bị phát hiện, bắt giữ.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Phạm Thế H, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau.
Chiếc xe máy biển kiểm soát 17N2- là tài sản của anh Phạm Thế S - sinh năm 1993, cư trú tại xóm 3, thôn V, xã D, huyện V, tỉnh Thái Bình (là em trai H). Anh S không biết H mượn xe mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh S.
Bản Cáo trạng số 300/CT-VKS-TPNĐ ngày 18-11-2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Phạm Thế H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Phạm Thế H xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng ép cung, bức cung hay dùng nhục hình. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố là đúng và khai nhận biết rõ hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới và ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Thế H theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Thế H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 33 tháng đến 36 tháng tù.
- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý vật chứng thu giữ của bị cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Thế H có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ vật chứng; lời khai của những người làm chứng; bản Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ nên đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 13-9- 2022, tại khu vực trước cửa số nhà 9/48 ngõ A, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định, Phạm Thế H đã có hành tàng trữ trái phép 0,830 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn thành phố N, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, việc truy tố và đưa ra xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.
[3] Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi Quyết định hình phạt đối với bị cáo:
[3.1] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt: Từ những phân tích, đánh giá nêu trên đối với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Số ma túy trong phong bì niêm phong số 1348/KL- KTHS là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy.
[7] Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Phạm Thế H, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
Chiếc xe máy biển kiểm soát 17N2-2341 là tài sản của anh Phạm Thế Sơn - sinh năm 1993, cư trú tại xóm 3, thôn Vô Thái, xã Dũng Nghĩa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình (là em trai H). Anh Sơn không biết H mượn xe mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh Sơn là đúng quy định của pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo Phạm Thế H bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Thế H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phạm Thế H 33 (ba ba) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 14 tháng 9 năm 2022.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong số 1348/KL-KTHS (vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 21-11-2022).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Thế H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Thế H được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 306/2022/HS-ST
| Số hiệu: | 306/2022/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Nam Định - Nam Định |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 13/12/2022 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về