Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 25/2023/HS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẠM TẤU, TỈNH YÊN BÁI

BẢN ÁN 25/2023/HS-ST NGÀY 26/12/2023 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 26 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Sùng Súa P, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1964 tại xã B, huyện T, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sùng Tráng V và bà Giàng Thị V; có vợ là Hờ Thị D và có 10 con (lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 2001); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 19 tháng 8 năm 2023, bị tạm giam từ ngày 22 tháng 8 năm 2023; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lý Ngọc K- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Yên Bái; có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác: Người phiên dịch tiếng Mông ông Hờ A S; địa chỉ thôn L, xã L, huyện T, tỉnh Yên Bái; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 16-8-2023 tại thôn Tà Ghênh, xã Bản Mù, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái bị cáo Sùng Súa P gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết ở trên đường qua trao đổi P đã mua của người này 01 gói thuốc phiện với giá 2.000.000 đồng. Sau khi mua được thuốc phiện bị cáo cất giấu trong buồng ngủ và đã nhiều lần lấy thuốc phiện ra sử dụng bằng cách dùng bộ bàn đèn tự tạo của mình để hút. Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 18-8-2023, Sùng Súa P đang sử dụng thuốc phiện tại buồng ngủ của mình thì bị tổ công tác của Công an xã Bản Mù, huyện Trạm Tấu phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 gói ni lon màu trắng bên trong có chứa chất nhựa dẻo màu nâu đen và 01 bộ bàn đèn đã cũ, đã qua sử dụng.

Ngày 19 tháng 8 năm 2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trạm Tấu thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp số: 26/LKXKC đối với chỗ ở của Sùng Súa P tại thôn Tà Ghênh, xã Bản Mù, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái. Kết quả: Không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Kết luận giám định số: 473/KL-KTHS ngày 24-8-2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái, kết luận: Chất nhựa dẻo màu nâu đen thu giữ của Sùng Súa P có khối lượng là 9,5 gam. 4,5 gam trích từ 9,5 gam chất nhựa dẻo màu nâu đen gửi giám định là ma túy; là Thuốc phiện.

Thuốc phiện và các chế phẩm của thuốc phiện nằm trong Danh mục ID, STT: 3, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Bản cáo trạng số: 24/CT-VKS-TT ngày 17-11-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái đã truy tố bị cáo Sùng Súa P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Sùng Súa P khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy vào ngày 18-8-2023, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí cho bị cáo.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Sùng Súa P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Sùng Súa P từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu và tiêu hủy 05 gam thuốc phiện được niêm phong trong 01 phong bì thư do Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Yên Bái phát hành; 01 bộ bàn đèn đã cũ, đã qua sử dụng; 01 vỏ phong bì thư đã mở niêm phong, mảnh nilon gói.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự cho bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa nhất trí với nội dung bản Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo là người dân tộc thiểu số không biết chữ, không biết tiếng Việt nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, về án phí đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí cho bị cáo; về xử lý vật chứng nhất trí như đề nghị của Kiểm sát viên.

Trong phần tranh luận, bị cáo Sùng Súa P không bổ sung thêm lời bào chữa của người bào chữa; không tranh luận với kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm được về đoàn tụ cùng gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trạm Tấu, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Trạm Tấu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo Sùng Súa P tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 18-8-2023 tại nhà ở của bị cáo, địa chỉ thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Yên Bái, bị cáo Sùng Súa P đã có hành vi tàng trữ 9,5 gam thuốc phiện với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang.

Với hành vi tàng trữ trái phép 9,5 gam thuốc phiện mục đích để sử dụng của bị cáo P đã phạm vào tội “Tàng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ nên được chấp nhận.

[3] Bị cáo Sùng Súa P là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép 9,5 gam thuộc phiện là vi phạm pháp luật hình sự, nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu nghiện ma túy của bản thân.

[4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi tàng trữ 9,5 gam thuốc phiện của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; làm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, lan tràn tệ nạn nghiện chất ma tuý và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, xâm hại trật tự an toàn xã hội.

[5] Xét nhân thân: Bị cáo là người sử dụng trái phép chất ma túy tại địa phương được Công an xã Bản Mù, huyện Trạm Tấu lập danh sách theo dõi, quản lý. Do đó cần xác định bị cáo là người có nhân thân xấu.

[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tìn tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

-Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Kiểm sát viên, người bào chữa đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ nên được chấp nhận.

[7] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm, vì tội phạm về ma túy gây tác hại lớn cho con người và xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác nên cần có mức án phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

[8] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa xét thấy bị cáo nghề nghiệp làm ruộng, thu nhập không ổn định, gia đình thuộc diện hộ nghèo. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về vật chứng và tài sản tạm giữ trong vụ án:

- Đối với 9,5 gam thuốc phiện thu giữ của bị cáo. Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái đã lấy 4,5 gam thuốc phiện làm mẫu vật giám định. Số thuốc phiện còn lại là 05 gam được niêm phong trong 01 phong bì do Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Yên Bái phát hành. Đây là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 bộ bàn đèn đã cũ, đã qua sử dụng. Đây là những công cụ, phương tiện bị cáo Sùng Súa P sử dụng vào việc phạm tội. Xét thấy đây là vật không có giá trị cần tịch thu và tiêu huỷ.

- Đối với 01 vỏ phong bì thư đã mở niêm phong, mảnh nilon gói, đây là vật không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

[10] Các đối tượng và hành vi có liên quan:

Đối với người đàn ông đã bán thuốc phiện cho Sùng Súa P trên đường thuộc thôn Tà Ghênh, xã Bản Mù, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái vào ngày 16-8- 2023. Quá trình điều tra cơ quan điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông này nên không có căn cứ xử lý trong vụ án.

[11] Về án phí và quyền kháng cáo:

- Về án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo, tại phiên tòa bị cáo, Kiểm sát viên, người bào chữa cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xem xét miễn án phí cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Sùng Súa P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Sùng Súa P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, là ngày 19-8-2023.

3. Về vật chứng và tài sản tạm giữ của vụ án:

Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu và tiêu hủy: 05 gam thuốc phiện được niêm phong trong 01 phong bì thư do Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Yên Bái phát hành; 01 bộ bàn đèn đã cũ, đã qua sử dụng; 01 vỏ phong bì thư đã mở niêm phong, mảnh nilon gói.

Các vật chứng có đặc điểm được mô tả như trong biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 22-11-2023 giữa Cơ quan Công an huyện Trạm Tấu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Trạm Tấu.

4. Về án phí và quyền kháng cáo:

- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Sùng Súa P được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

36
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 25/2023/HS-ST

Số hiệu:25/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trạm Tấu - Yên Bái
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 26/12/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về