Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 22/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 22/2024/HS-ST NGÀY 26/06/2024 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 26 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1992 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: Khu phố LM, phường LC, thành phố GC, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông:

Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: không; Tiền sự: không; nhân thân: Ngày 15/01/2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã GC (nay là Tòa án nhân dân thành phố GC) ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 12 tháng; đã chấp hành xong vào ngày 04/11/2020; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/01/2024, tạm giam từ ngày 24/01/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố GC, tỉnh tiền Giang, có mặt tại phiên tòa;

* Người làm chứng:

- Ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm: 1970; (vắng mặt) Nơi cư trú: Khu phố LHG, phường LH, thành phố GC, tỉnh Tiền Giang;

- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1971; (có mặt) Nơi cư trú: Khu phố LM, phường LC, thành phố GC, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 18 tháng 01 năm 2024, T đón xe mô tô khách đến khu vực Phường , thị xã GC (nay là Phường M, thành phố GC) gặp một người tên thường gọi là H (T không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể của người này). T nhờ H hỏi mua giúp 200.000 đồng ma túy tổng hợp (ma túy đá). Theo lời khai của T, sau khi H gọi điện thoại nói chuyện với người bán túy thì H kêu T đến Nhà nghỉ “N N” tọa lạc tại ấp LHG, xã LH, thị xã GC (nay là khu phố LHG, phường LH, thành phố GC, tỉnh Tiền Giang) để mua ma túy.

Tâm đến trước Nhà nghỉ “NN”, chờ khoảng 05 phút sau thì có một nam thanh niên (T không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người này) đi ra gặp T, T đưa cho người này số tiền 200.000 đồng thì nhận lại 01 gói ma túy. T cất gói ma túy trong túi áo bên trái đang mặc trên người rồi đi về quán nhậu “MN” tọa lạc tại khu phố LHG, phường LH, thành phố GC, do mẹ của T là bà Nguyễn Thị N làm chủ.

Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, Công an thành phố Gò Công phối hợp Công an phường LH phát hiện T có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, xác minh. Kết quả kiểm tra phát hiện T đang cất giấu 01 gói ny-lon bên trong có chứa tinh thể rắn trong suốt trong túi áo bên trái đang mặc trên người; T khai là ma túy đá. Nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T.

Vật chứng thu giữ khi bắt người phạm tội quả tang gồm:

- 01 gói ny-lon được bóp kín có một đầu viền xanh, bên trong có chứa chất tinh thể rắn trong suốt nghi là ma túy, được niêm phong;

- 01 bộ dụng cụ tự chế để sử dụng ma túy (bình nhựa có nắp đậy màu đỏ, trên nắp có gắn ống thủy tinh (nỏ) và ống hút màu trắng;

Theo Kết luận giám định số 11/KL-KTHS ngày 20/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang xác định đối với chất nghi là ma túy đã thu giữ nêu trên như sau: Các mẫu tinh thể trong suốt gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2263 (không phẩy hai hai sáu ba) gam, loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKSTPGC ngày 15/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

2/ Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38: điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2024.

3/ Về vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

* Tịch thu tiêu hủy:

- Ma túy còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2035 (không phẩy hai không ba năm), được niêm phong trong 01 (một) bì thư ký hiệu vụ số 11 ghi ngày 20 tháng 01 năm 2024;

- 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy (bình nhựa có nắp đậy màu đỏ, trên nắp có gắn ống thủy tinh (nỏ) và ống hút màu trắng.

4/ Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo Nguyễn Văn T xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về cùng với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Gò Công, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận: Vào ngày 18 tháng 01 năm 2024, tại quán nhậu “MN” tọa lạc tại khu phố LHG, phường LH, thành phố GC, tỉnh Tiền Giang, Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,2263 gam ma túy, loại Methamphetamine để nhằm mục đích sử dụng, thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang như nội dung Cáo trạng đã nêu, không có oan sai.

Lời khai nhận trên của bị cáo đã phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản bắt người phạm tội quả tang của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Gò Công; Kết luận giám định số 11/KL-KTHS ngày 20/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Tiền Giang, phù hợp với lời khai của người làm chứng, đồng thời khớp với các lời khai trước đây của bị cáo tại Cơ quan cơ điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[3]. Với các chứng cứ tài liệu đã nêu trên, Tòa án có đầy đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Văn T đã có hành vi cất giữ chất ma túy có tổng khối lượng 0,2263 gam loại Heroin trong người bị cáo nhằm mục đích sử dụng. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[4]. Về động cơ, mục đích của tội phạm: bị cáo T đã trưởng thành có đầy đủ sức khoẻ và khả năng nhận thức về hành vi phạm tội của mình, nhưng chỉ vì muốn sử dụng ma túy nên bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

[5]. Xét về nhân thân bị cáo Nguyễn Văn T có nhân thân không tốt: Vào ngày 15/01/2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Gò Công (nay là Tòa án nhân dân thành phố Gò Công) ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 12 tháng.

[6]. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7]. Về tình tiết tăng nặng: không có.

Trên cơ sở đánh giá nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo T có tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tuy nhiên sau khi cai nghiện xong được tái hoà nhập cộng đồng, bị cáo không nhận thức được lỗi lầm của mình mà lại tiếp tục tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Điều này chứng tỏ rằng bị cáo xem thường pháp luật, không chịu sửa chữa lỗi lầm. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục răn đe và phòng chống tội phạm, đồng thời cho bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội và có thời gian cai nghiện.

[8]. Về hình phạt bổ sung: Theo qui định tại khoản 5 điều 249 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tuy nhiên xét bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không phạt tiền đối với bị cáo.

[9]. Về hành vi của người có liên quan: Theo lời khai của T, người mà T nhờ liên hệ mua ma túy tên thường gọi là H, người bán ma túy cho T là một nam thanh niên T chưa quen biết trước đó. Cả hai đối tượng này thì T đều không biết rõ họ tên đầy đủ và địa chỉ cư trú, nên khi Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại Công an Phường B (nay là Phường M), thành phố GC và tại Nhà nghỉ “N N” thì không xác định được đối tượng. Cho nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Gò Công tách riêng hai đối tượng trên để tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định của pháp luật.

[10]. Về vật chứng:

- Ma túy còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2035 gam, loại Methamphetamine được niêm phong trong 01 bì thư ký hiệu vụ số 11 ghi ngày 20 tháng 01 năm 2024, có các chữ ký in họ tên: Huỳnh Tấn L (Giám định viên), Trần Thanh D (Trợ lí Giám định viên), chữ ký ghi họ tên: Võ Huỳnh Nhật H (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TIỀN GIANG và 01 vỏ gói nylon màu trắng có viền xanh một đầu (loại túi Zip), đã bị cắt một đầu để lấy giám định. Xét thấy đây là tang vật của vụ án và là chất Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy (bình nhựa có nắp đậy màu đỏ, trên nắp có gắn ống thủy tinh (nỏ) và ống hút màu trắng. Đây là công cụ bị cáo dùng để sử dụng ma túy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[11]. Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

[12]. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

- Các Điều 106, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2024.

3. Về vật chứng:

* Tịch thu tiêu hủy:

- Ma túy còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2035 gam, loại Methamphetamine được niêm phong trong 01 bì thư ký hiệu vụ số 11 ghi ngày 20 tháng 01 năm 2024, có các chữ ký in họ tên: Huỳnh Tấn L (Giám định viên), Trần Thanh D (Trợ lí Giám định viên), chữ ký ghi họ tên: Võ Huỳnh Nhật H (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TIỀN GIANG và 01 vỏ gói nylon màu trắng có viền xanh một đầu (loại túi Zip), đã bị cắt một đầu để lấy giám định.

- 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy (bình nhựa có nắp đậy màu đỏ, trên nắp có gắn ống thủy tinh (nỏ) và ống hút màu trắng.

Thời gian thực hiện sau khi án có hiệu lực pháp luật.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gò Công và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Gò Công) 4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo bản án để Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Trường hợp những người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

128
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 22/2024/HS-ST

Số hiệu:22/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Gò Công - Tiền Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:26/06/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về