Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 221/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 221/2024/HS-ST NGÀY 22/05/2024 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 217/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 theo theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 233/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Lâm Tr, sinh năm 1986 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: 34 Đường 10, Khu phố 3, phường Trường T thành phố T, Thành phố H; Nơi ở hiện tại: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Không; con ông Lâm Văn M và bà Huỳnh Ngọc A; có vợ và 03 con, lớn sinh năm 2009 và nhỏ sinh năm 2011; Tiền sự: Không Tiền án: Bản án số 233/2017/HSST ngày 18/7/2017 của Toà án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong án phạt tù ngày 12/01/2019, chưa đóng án phí và bồi thường dân sự theo quy định.

Nhân thân:

Bản án số 94/2011/HSST ngày 13/5/2011 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 02 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 23/7/2012, đã đóng án phí theo quy định.

Bị tạm giam từ ngày 01/11/2023 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh –có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1, Bà Lâm Tuyết N, sinh năm 1976 Địa chỉ cư trú: 29F9 Hoàng Sỹ Khải, phường 14, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh- vắng mặt.

2, Ông Lâm Huỳnh Minh M, sinh năm 1984 Địa chỉ: 34 đường số 10, khu phố 3, phường Trường Thọ, thánh phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh- vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 01/11/2023 Tổ tuần tra của Công an phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức đi tuần tra đến trước nhà số 144/14/14 đường Linh Trung, Khu phố 3, phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức phát hiện Lâm Tr điều khiển xe mô tô biển số 54L7-xxxx có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện bên trong túi quần bên trái phía sau Tr đang mặc có 02 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng được vo tròn, bên trong có 02 gói nylon chứa tinh thể không màu. Tr khai nhận 02 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma tuý đá của Tr nên Tổ tuần tra đưa Tr về Công an phường để lập hồ sơ xử lý.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Lâm Tr, khai nhận: Vào khoảng 14 giờ ngày 01/11/2023, một người bạn tên Tùng (không rõ nhân thân, lai lịch) ở Phan Thiết vào chơi. Tùng gọi vào số máy 0329818128 của Tr rủ uống cà phê tại trước Trường Đại học Nông Lâm, phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức. Trong lúc ngồi uống cà phê Tùng hỏi Tr còn sử dụng ma tuý hay không, Tr xác nhận còn sử dụng. Sau đó, Tùng xin Tr tiền xe về Phan Thiết và đưa cho Tr 02 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng được vo tròn, bên trong có 02 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma tuý đá và nói Tr đưa Tùng 400.000 đồng. Tr đưa Tùng 400.000 đồng và lấy 02 tờ tiền có ma tuý bên trong giấu vào bên trong túi quần bên trái phía sau đang mặc trên người, sau đó Tr điều khiển xe về đóng tiền học cho con thì bị phát hiện. Tr thừa nhận ma tuý đá là của Tr, mục đích là để sử dụng.

Kết luận giám định số 12369/KL-KTHS ngày 10/11/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể không màu trong 02 (hai) gói nylon đều là ma tuý ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,2347g (một phẩy hai ba bốn bảy gam), loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số: 226/VKS-TPTĐ ngày 24/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lâm Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Sau khi trình bày bản luận tội vị đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lâm Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đồng thời đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt Lâm Tr 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Bị cáo Lâm Tr khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra Viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Lời khai của bị cáo Lâm Tr phù hợp với bản kết luận giám định về ma túy của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định bị cáo Lâm Tr thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 1,2347g ma tuý ở thể rắn loại Methamphetamine vào ngày 01/11/2023, tại trước nhà số 144/14/14 đường Linh Trung, khu phố 3, phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Công an phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức bắt quả tang. Do đó có căn cứ xác định bị cáo Lâm Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp quy định điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố là có căn cứ pháp luật.

[3]. Xét về tính chất hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tội phạm mà bị cáo gây ra nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây mất trật tự trị an cho xã hội, gây nguy hại c ho sức khỏe của con người, góp phần làm băng hoại đạo đức xã hội, kích thích các tệ nạn xã hội khác có cơ hội phát triển, bản thân bị cáo đã có đã bị kết án năm 2017, chưa được xóa án tích nay lại phạm tội tàng trái phép chất ma túy nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu đã bị xét xử nhưng khi chấp hành xong lại tiếp phạm tội cần phải xử lý bị cáo bằng một hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nhằm mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5]. Vật chứng vụ án:

- 01 gói niêm phong có mã vụ 2385/23 (1) Thủ Đức, bên ngoài có chữ ký ghi tên Lâm Tr, cán bộ Nguyễn Thị Phương Mai, giám định viên Bùi Công Danh và hình dấu Công an phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức, bên trong có khối lượng mau túy còn lại sau khi phục vụ giám định; 01 điện thoại di động màu đen bị hư không hiển thị nội dung thì cần tịch thu tiêu hủy .

- 02 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Realme đã qua sử dụng liên quan đến việc phạm tội thì cần tịch thu sung công;

- 01 xe máy biển số 54L7-xxxx, nhãn hiệu SunLux, số máy: QMI4-09005851, số khung: W3AX-005451 là xe của bị cáo mượn ông Lâm Huỳnh Minh Mẫn. Qua xác minh xe này đứng tên chủ sở hữu là bà Lâm Tuyết Như, bà Như khai đã bán lại cho một cửa hàng tại đường Phạm Thế Hiển, Quận 8 năm 2012 bằng giấy tay. Bị cáo Tr khai xe này bị cáo mua nhưng không làm giấy tờ. Do chưa xác định được chủ sở hữu nên cần thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng để truy tìm chủ sở hữu đối với xe máy biển số 54L7-xxxx, nhãn hiệu SunLux, số máy: QMI4-09005851, số khung: W3AX-005451. Sau 06 tháng kể từ ngày thông báo mà không xác định được chủ sở hữu thì cần tịch thu sung công.

[6]. Đối với người tên Tùng bán ma túy cho bị cáo, do chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

[7]. Về án phí: Xét cần buộc bị cáo Lâm Tr phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của Bộ luật tố tụng hình sự và nghị quyết quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Lâm Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Lâm Tr 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 01/11/2023.

3. Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong có mã vụ 2385/23 (1) Thủ Đức, bên ngoài có chữ ký ghi tên Lâm Tr, cán bộ Nguyễn Thị Phương Mai, giám định viên Bùi Công Danh và hình dấu Công an phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức, bên trong có khối lượng mau túy còn lại sau khi phục vụ giám định; 01 điện thoại di động màu đen bị hư không hiển thị nội dung;

Tịch thu sung công vào ngân sách nhà nước 02 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng và 01 điện thoại di động Realme đã qua sử dụng.

Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng để truy tìm chủ sở hữu đối với xe máy biển số 54L7-xxxx, nhãn hiệu SunLux, số máy: QMI4-09005851, số khung: W3AX-005451. Sau 06 tháng kể từ ngày thông báo mà không xác định được chủ sở hữu đối với chiếc xe này thì cần tịch thu sung công vào ngân sách nhà nước.

(Phiếu nhập kho số NK24/225C ngày 24/04/2024 của Chi cục thi hành án dân tự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).

3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Buộc bị cáo Lâm Tr phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

94
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 221/2024/HS-ST

Số hiệu:221/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân TP. Thủ Đức - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:22/05/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về