TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 21/2025/HS-ST NGÀY 15/01/2025 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Ngày 15 tháng 01 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 369/2023/TLST-HS, ngày 14 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 358/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Long Anh D; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1977 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: B11/4 Ấp 16 (Ấp 2 cũ), xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 92 đường H, Ấp 2 (Ấp 1 cũ), xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Long Q và bà Lê Thị T; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 12/10/1998, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 19 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt bổ sung 20.000.000 đồng. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 10/6/2012, đã nộp án phí hình sự 50.000 đồng và 1.500.000 đồng tiền phạt, còn lại số tiền 18.500.000 đồng được Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh ra Quyết định số 102/2010/QĐMTHA-ST ngày 25/8/2010 miễn thi hành. (đương nhiên xóa án tích) - Ngày 10/01/2020, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị can đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 25/01/2022, đã nộp án phí hình sự 200.000 đồng (đương nhiên xóa án tích).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/6/2024 cho đến nay. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 01/6/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Bình Tân phối hợp với Công an xã Bình Chánh tuần tra đến trước nhà số 92 đường H, ấp 2, xã B, huyện B thì phát hiện Phan Long Anh D có biểu hiện nghi vấn nên Tổ công tác tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện bên trong túi áo khoác bên trái phía trước của bị cáo đang mặc có 01 vỏ hộp bài bên trong có 03 gói nylon chứa tinh thể qua giám định kết luận là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 10,1746 gam, loại Ketamine; 02 gói nylon màu đỏ có chữ CANNAGUMMIES 550MG bên trong chứa chất bột kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 7,9834 gam, loại Methamphetamine, Nimetazepam; 02 gói nylon có chữ Deadpool bên trong chứa chất bột kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 4,9806 gam, loại Methamphetamine, Nimetazepam (Kết quả thể hiện tại Kết luận giám định số 6678/KL-KTHS ngày 10/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh). Bị cáo khai nhận số ma túy này là của bị cáo cất giấu để sử dụng cho bản thân nên lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo. Kết quả xét nghiệm xác định bị cáo dương tính với ma túy, loại Methamphetamine.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo Phan Long Anh D tại số 92 Hoàng Phan Thái, ấp 2, xã B, huyện B không thu giữ vật chứng liên quan đến ma túy. Tiến hành kiểm tra điện thoại của D không phát hiện nội dung liên quan đến ma túy.
Tại Cơ quan điều tra, Phan Long Anh D khai nhận: Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 01/6/2024, bị cáo đi chơi ở khu vực Quận 8 rồi tìm xe để về nhà thì bị cáo gặp một người thanh niên không rõ lai lịch mua 04 gói ma túy dạng nước vui và 03 gói ma túy Ketamine với số tiền 600.000 đồng để sử dụng. Bị cáo cất giấu ma túy vào trong hộp bài để vào túi áo khoác phía trước, bên trái của bị cáo đang mặc, trên đường đi về nhà thì bị lực lượng Công an tiến hành kiểm tra, bắt giữ.
Cáo trạng số 348/CT-VKSBC ngày 08/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
Bị cáo Phan Long Anh D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố. Bị cáo thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải. Lời sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy đối với số ma túy thu giữ còn lại sau giám định và 01 vỏ hộp bài. Đề nghị trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Samsung và 01 điện thoại di động hiệu OPPO thu giữ của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được và kết quả tranh luận tại phiên tòa, có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau:
Ngày 01/6/2024, tại trước nhà số 92 Hoàng Phan Thái, ấp 2, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Phan Long Anh D đã có hành vi cất giữ 10,1746 gam ma túy loại Ketamine,12,964 gam ma túy loại Methamphetamine, Nimetazepam để sử dụng nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang.
Căn cứ Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, qua tính tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Methamphetamine, Ketamine, Nimetazepam thu giữ của Phan Long Anh D xác định thuộc trường hợp dưới 100%. Như vậy có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Phan Long Anh D đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo có công với cách mạng, có ông nội là liệt sĩ, bà nội được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Xét các tình tiết giảm nhẹ nêu trên, Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu nhiều lần bị xử lý hình sự về các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Trộm cắp tài sản” nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[4] Đối với người bán ma túy cho bị cáo Phan Long Anh D, do bị cáo khai không xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh làm rõ để xử lý.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với số ma túy thu giữ còn lại sau giám định; 01 vỏ hộp bài: Đây là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung và 01 điện thoại di động hiệu OPPO thu giữ của bị cáo, do không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Phan Long Anh D: 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 01/6/2024.
2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
2.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Phan Long Anh D, Điều tra viên, người chứng kiến, Trưởng Công an xã và hình dấu Công an xã B, huyện B, bên trong là ma túy còn lại sau giám định; 01 vỏ hộp bài.
2.2. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Samsung và 01 điện thoại di động hiệu OPPO.
(Các vật chứng trên đang giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 20/11/2024 giữa Công an huyện Bình Chánh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh).
3. Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Phan Long Anh D chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo Phan Long Anh D có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án.
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 21/2025/HS-ST
| Số hiệu: | 21/2025/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Bình Chánh - Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 15/01/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về