TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH
BẢN ÁN 202/2023/HS-ST NGÀY 15/09/2023 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Ngày 15 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định. Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 173/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo.
Họ và tên: Khiếu Văn Q, sinh năm 1994; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 6/12; con ông: Khiếu Văn T và con bà: Đinh Thị T; gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai; vợ: Hà Thị Hồng P; có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 09/12/2022, Công an huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định xử phạt hành chính, hình thức phạt tiền về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; nhân thân: Ngày 23/11/2011, Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng về tội “Vận chuyển hàng cấm”; ngày 23/01/2018, Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/5/2023, chuyển tạm giam từ ngày 08/6/2023, hiện đang bị tam giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 29/5/2023, Tổ công tác Công an phường L, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa nhà số 1 đường T, phường C, thành phố N phát hiện Khiếu Văn Q đang đi xe đạp màu hồng có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, thu giữ trong tay trái của Q 01 gói nhỏ được bọc bằng giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (Q khai đó là gói Heroine mục đích sử dụng cho bản thân). Tổ công tác đã niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Khiếu Văn Q. Ngoài ra, còn tạm giữ của Q 01 chiếc xe đạp màu hồng.
Bản Kết luận giám định số 801/KL-KTHS ngày 02/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói được bọc bằng lớp giấy bạc màu trắng, được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu: 0,232 gam.
Tại Cơ quan Điều tra, Khiếu Văn Q khai nhận: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 29/5/2023, Q đi xe đạp mini màu hồng từ nhà đến khu vực ngõ An Phong, phường Q, thành phố N gặp một người phụ nữ khoảng 60 tuổi (Không rõ tên, tuổi, địa chỉ) mua 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng, Q cầm gói ma túy trong tay trái, đạp xe đi tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Bản Cáo trạng số 195/CT-VKSND-TPNĐ ngày 24/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Khiếu Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên toà, bị cáo Khiếu Văn Q xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng ép cung, bức cung hay dùng nhục hình. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố là đúng và khai nhận biết rõ hành vi cất giữ trái phép ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do nghiện ma túy nên đã tàng trữ với mục đích sử dụng cho bản thân. Bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới và ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 27 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;
- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo; trả lại bị cáo 01 chiếc xe đạp màu hồng đã cũ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Khiếu Văn Q không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo Khiếu Văn Q có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ vật chứng; lời khai của những người làm chứng; bản Kết luận giám định số 801/KL-KTHS ngày 02/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ kết luận: 18 giờ 00 phút ngày 29/5/2023, tại trước cửa nhà số 1 đường T, phường C, thành phố N bị cáo Khiếu Văn Q đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,232 gam Heroine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn thành phố N, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, việc truy tố và đưa ra xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội.
[3] Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi Quyết định hình phạt đối với bị cáo:
[3.1] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan Điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có một tiền sự về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa hết thời hiệu, có nhân thân xấu.
[4] Về hình phạt: Xét thấy bị cáo Khiếu Văn Q là đối tượng có nhân thân xấu, có một tiền sự về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa hết thời hiệu nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội cho thấy bị cáo là đối tượng khó giáo dục, cải tạo nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Số ma túy sau khi giám định hoàn lại là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy; chiếc xe đạp mini màu hồng, đã cũ là tài sản của Khiếu Văn Q xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[7] Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định nên Cơ quan Điều tra tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo Khiếu Văn Q bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
1. Tuyên bố: Bị cáo Khiếu Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Khiếu Văn Q 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 30 tháng 5 năm 2023.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 801/KL-KTHS ngày 02/6/2023; trả lại bị cáo chiếc xe đạp mini màu hồng, đã cũ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án (vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/8/2023).
3. Án phí: Bị cáo Khiếu Văn Q phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Khiếu Văn Q được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 202/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 202/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Nam Định - Nam Định |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 15/09/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về