TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - TỈNH SƠN LA
BẢN ÁN 20/2025/HS-ST NGÀY 29/09/2025 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ
Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La và điểm cầu thành phần: Phân trại tạm giam khu vực Phù Yên
-Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Tòng Văn K; Tên gọi khác: Tòng Văn K; sinh ngày 01/12/1980; Nơi cư trú: Bản L, xã P, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 02/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Tòng Văn D (Đã chết), con bà Vì Thị C, sinh năm 1945; có vợ Tòng Thị D, sinh năm 1982; có 03 con: con lớn nhất 25 tuổi, con nhỏ nhất 21 tuổi; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 29/7/2008, Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời gian là 24 tháng. Chấp hành xong ngày 31/5/2010
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/7/2025 tại Phân trại tạm giam khu vực Phù Yên – Sơn La cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 00 phút, ngày 29/7/2025, Tổ công tác Công an xã Pắc Ngà, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại Bản L, xã Pắc Ngà phát hiện Tòng Văn K đang đi bộ trên đường có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, K tự giác lấy từ trong túi quần bên trái đang mặc ra 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong chứa cục chất bột màu trắng nghi là ma tuý (Heroine) giao nộp cho tổ công tác. K khai nhận số chất bột màu trắng là Heroine, mục đích tàng trữ để sử dụng do nghiện ma túy. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng theo quy định. Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong chứa cục chất bột màu trắng nghi là ma tuý (Heroine); 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A77 5G, màu tím đã qua sử dụng.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La thi hành lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Tòng Văn K tại bản L, xã P, tỉnh Sơn La. Kết quả: Không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Ngày 29/7/2025, tại Công an xã P, tỉnh Sơn La, gồm Điều tra viên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên VKSND Khu vực 5 và sự có mặt của Tòng Văn K, người chứng kiến tiến hành mở niêm phong, cân tịnh số vật chứng thu giữ. Kết quả: Số chất bột màu trắng trong gói giấy màu trắng có khối lượng 0,171 gam, lấy toàn bộ ký hiệu K1 làm mẫu gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 845, ngày 03/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu ký hiệu K1 gửi giám định là ma tuý: Loại Heroine (Heroin); Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,171 gam. Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,171 gam; Loại Heroine (Heroin)”
Qua xác minh, có đủ căn cứ xác định Tòng Văn K không thuộc diện được quy định tại điểm a đến điểm d khoản 1 Điều 256a BLHS, sửa đổi bổ sung năm 2025. Do vậy không có căn cứ xử lý bị can Tòng Văn K về tội Sử dụng trái phép chất ma tuý quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Tòng Văn K khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 14 giờ 15 phút, ngày 29/7/2025 K một mình đi bộ từ nhà theo đường dân sinh của bản tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến đoạn đường gần suối thuộc bản L, xã Pắc Ngà thì K gặp một người đàn ông không quen biết, K hỏi mua được 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Mua ma túy xong, K hỏi tên người đàn ông thì người đàn ông nói tên Toa rồi điều khiển xe đi đâu K không biết, K lấy gói ma túy ra tách một ít Heroine cho vào mảnh giấy bạc đem theo từ trước rồi sử dụng bật lửa đốt phía dưới hít ma túy vào cơ thể, sử dụng xong K ném bật lửa cùng mảnh giấy bạc xuống suối rồi gói số ma túy còn lại như cũ cất vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi bộ về nhà, khi đi được khoảng 100m thì bị tổ công tác Công an xã Pắc Ngà, tỉnh Sơn La kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu ở trên.
Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS-KV5 ngày 17 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Sơn La truy tố bị cáo Tòng Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025 xử phạt bị cáo Tòng Văn K mức án từ 36 tháng đến 42 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025. Đề nghị tịch thu tiêu hủy số vật chứng là 01 (một) phong bì do Bưu chính Việt Nam phát hành được niêm phong theo quy định. Mặt trước phong bì ghi: Vật chứng nhập kho vụ Tòng Văn K – Tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 29/7/2025 tại bản L, xã P, tỉnh Sơn La bên trong gồm: 01 mảnh giấy màu trắng dùng để gói chất nghi là ma túy thu giữ của Tòng Văn K. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A77 5G, màu tím đã qua sử dụng.
Ý kiến của bị cáo Tòng Văn K tự bào chữa: Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là sai và vi phạm pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]Về hành vi và trách nhiệm hình sự của bị cáo: Tại phiên toà bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Sơn La. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng đã thu giữ; biên bản mở niêm phong vật chứng, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định và lời khai của người chứng kiến sự việc.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Ngày 29/7/2025, Tòng Văn K đã có cất giấu 0,171 gam Heroine để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025 có mức phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.
[3]Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Tòng Văn K:
-Bị cáo mua và cất giấu trái phép 0,171 gam Heroine để sử dụng cho bản thân, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương và ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hậu quả của hành vi, nhưng bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm với động cơ mục đích cá nhân.
-Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nhận thức và am hiểu pháp luật có phần hạn chế. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
-Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 52 Bộ luật hình sự.
-Về nhân thân: Bị cáo đã từng bị UBND tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời gian là 24 tháng, chấp hành xong ngày 31/5/2010. Bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà còn cố ý thực hiện hành vi phạm tội với mục đích cá nhân.
Từ sự phân tích trên, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo. Đồng thời cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương trong giai đoạn hiện nay.
[4]Bị cáo đang bị tạm giam cần tiếp tục tạm giam theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025. Thời gian tạm giam được tính vào thời gian thụ hình.
[5]Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 (Một) phong bì do Bưu chính Việt Nam phát hành được niêm phong theo quy định bên trong gồm có 01 mảnh giấy màu trắng là vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A77 5G, màu tím đã qua sử dụng quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo, bị cáo không sử dụng chiếc điện thoại này vào việc phạm tội. Vì vậy, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý.
[7]Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông tên T đã trực tiếp bán ma túy cho bị cáo, HĐXX xét thấy hành vi mua bán đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội cần phải bị xử lý hình sự, nhưng quá trình điều tra không xác định được đối tượng nên không có căn cứ để xử lý ở vụ án này, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý ở vụ án khác.
[8]Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015 bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại bản có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do vậy Tòa án cần xem xét miễn án phí cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1.Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025:
-Tuyên bố bị cáo Tòng Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
-Xử phạt bị cáo Tòng Văn K 39 (Ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2025 là ngày bị cáo bị bắt.
-Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2.Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025:
-Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì do Bưu chính Việt Nam phát hành được niêm phong theo quy định bên trong gồm có 01 mảnh giấy màu trắng.
-Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A77 5G, màu tím đã qua sử dụng.
(Vật chứng nêu trên được mô tả theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 17/9/2025 giữa Công an tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 5 – Sơn La).
3.Về Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tòng Văn K.
4.Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/9/2025).
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý số 20/2025/HS-ST ngày 29/09/2025
| Số hiệu: | 20/2025/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Sơn La - Sơn La |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 29/09/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về