Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 193/2022/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

BẢN ÁN 193/2022/HS-ST NGÀY 18/11/2022 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 18 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 154/2022/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 189/2022/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo: Trịnh Minh T, sinh ngày 08/8/1981 tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; Cha: Trịnh T, sinh năm 1947 (đã chết), mẹ Đinh Thị B, sinh năm 1954; bị cáo có 01 con chung sinh năm 2017 với Lương Thị H, sinh năm 1988 (không đăng ký kết hôn); Tiền án: không; tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/6/2022, tạm giam từ ngày 27/6/2022 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trịnh Minh T là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 17 giờ 20 phút, ngày 21/6/2022, T gọi điện thoại cho người đàn ông tên N (chưa rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá, N đồng ý và hẹn T sẽ có người đem ma tuý đến giao. Khoảng 17 giờ 55 phút cùng ngày, một người đàn ông lạ gọi điện thoại hẹn T đến khu vực đối diện Cơ sở đá mỹ nghệ N thuộc tổ A, Thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu để nhận ma tuý. Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, T đến điểm hẹn trên và nhận 01 vỏ bao thuốc lá màu trắng xanh, hiệu 555, bên trong có chứa 01 gói ma tuý đá từ người đàn ông lạ mặt, sau đó T cất vào hộc đựng đồ phía trước bên phải xe máy để chuẩn bị đi về thì bị Công an kiểm tra, bắt quả tang T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tang vật thu giữ gồm: 01 (một) gói nylon hàn kín, bên trong chứa chất kết tinh, không màu, trong suốt được đựng trong một vỏ bao thuốc lá màu trắng xanh, hiệu 555; 01 điện thoại di động có chữ Oppo và 01 xe mô tô hiệu Yamaha Mio BKS 65H1-xxxxx.

Tại bản kết luận giám định số 287/KL-KTHS-MT ngày 30 tháng 6 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu kết luận: Mẫu chất kết tinh không màu - trong suốt chứa trong 01 (một) gói nylon hàn kín, được niêm phong trong một phong bì màu trắng, có hình dấu của Công an xã T - Công an thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Trung tá Bùi Văn T, Nguyễn Đức V, Trương Tiến Q, Nguyễn Tấn P, Trịnh Minh T, gửi đến giám định có khối lượng 0,4442 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong chất ma tuý đề số 287 ngày 30/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định; một điện thoại di động có chữ Oppo và một xe mô tô hiệu Yamaha Mio đã chuyển đến Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Phú Mỹ bảo quản chờ xử lý.

Bản cáo trạng số 139/CT-VKS-PM ngày 10/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã truy tố bị cáo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ giữ nguyên quyết định truy tố Trịnh Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy một phong bì niêm phong vụ số 287 ngày 30/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đựng mẫu vật còn lại sau giám định; tịch thu sung quỹ nhà nước một điện thoại di động có chữ Oppo; giao lại chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Mio BKS 65H1-xxxxx cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Mỹ để tiếp tục điều tra, làm rõ trả lại cho chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố; bị cáo không có ý kiến về bản luận tội của Kiểm sát viên; bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo:

[2.1] Về tội danh: Lời khai nhận tội tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 21 tháng 6 năm 2022 tại địa điểm đối diện Cơ sở đá mỹ nghệ N thuộc tổ A, thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Trịnh Minh T có hành vi tàng trữ trái phép 0,4442 gam, qua giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang. Do đó, hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[2.2] Về khung hình phạt: Khối lượng chất ma túy mà bị cáo tàng trữ là 0,4442 gam, thuộc loại Methamphetamine. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định bản cáo trạng số 139/CT-VKS-PM ngày 10 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã truy tố Trịnh Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[3.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về mức hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; xâm phạm trật tự an toàn xã hội và gây ảnh hưởng xấu đến đời sống của nhân dân. Do vậy, đối với bị cáo cần áp dụng hình phạt đủ nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục riêng cũng như phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Đối với đối tượng tên N và người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) là người giao ma tuý cho T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Mỹ tiếp tục điều tra, xác minh nhân thân, lai lịch và hành vi phạm tội. Khi có kết quả sẽ xử lý theo quy định pháp luật.

[7] Xử lý vật chứng: Đối với phong bì niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ cần tịch thu, tiêu huỷ; Đối với một chiếc điện thoại di động hiệu Oppo được bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Mio biển kiểm soát 65H1-xxxxx, số máy 4P83014550, số khung Y014550:

Xét thấy, tại phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông đường bộ của Công an thị xã Phú Mỹ thì chiếc xe mô tô có số máy và số khung trên là tài sản hợp pháp của ông Bùi Tấn H nhưng biển kiểm soát là 61L7-xxxxx, ông H khai đã bán chiếc xe trên cho người khác mà không rõ địa chỉ. Theo lời khai của ông Phạm Minh Đ (địa chỉ tại xã T, huyện T, thành phố C), biển kiểm soát 65H1-xxxxx bị cáo sử dụng tại thời điểm bị thu giữ, hiện đang được ông Đ sử dụng theo giấy chứng nhận đăng ký mô tô xe máy số 004870 do công an huyện T, thành phố C cấp cho ông Đ vào ngày 17/12/2015. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai mua lại chiếc xe Yamaha Mio nhưng không cung cấp được giấy tờ mua bán xe và giấy chứng nhận đăng ký xe.

Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy rằng chưa xác định được chủ sở hữu chiếc xe mô tô trên, cần giao lại chiếc xe trên cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Mỹ để tiếp tục điều tra, làm rõ để trả lại cho chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.

[8] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trịnh Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, Xử phạt bị cáo Trịnh Minh T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 21/6/2022).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu thu tiêu hủy một phong bì niêm phong vụ số 287 ngày 30/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu bên trong đựng mẫu vật còn lại sau giám định;

Tịch thu sung quỹ nhà nước một chiếc điện thoại di động hiệu Oppo (Model:

CPH1723, màu đen, không tìm thấy số Imel, máy đã cũ và không hoạt động).

Giao một xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha (số loại Mio, màu trắng-xanh, biển số: 65H1-xxxxx, số máy 4P83-014550, số khung: RLCM4P8307Y014550, xe đã cũ và không hoạt động) cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Mỹ để tiếp tục điều tra, làm rõ để trả lại cho chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.

Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án thị xã Phú Mỹ đang quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 12/BB-CCTHADS ngày 12/10/2022 giữa Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án (ngày 18/11/2022) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

30
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 193/2022/HS-ST

Số hiệu:193/2022/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Phú Mỹ - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 18/11/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về