Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý số 180/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

BẢN ÁN 180/2023/HS-ST NGÀY 22/12/2023 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ

Trong ngày 22 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 176/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 248/2023/QĐXX-HS ngày 08 tháng 12 năm 2023; đối với:

Bị cáo: Họ và tên: Trần Kim K; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 09/5/xxxx; Nơi ĐKHKTT + Chỗ ở: Thôn T, xã V, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trần Văn C, sinh năm 1958 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1957; Gia đình có 03 chị em, bị can là thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2006/HS-ST ngày 20/7/2006 của Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc Xử K 09 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ”, thời hạn tù tính từ ngày 15/5/2006, buộc bồi thường cho bị hại 10.541.200 đồng và 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, 527.060 đồng án phí dân sự. K đã chấp hành xong. (Bản án số 11/2019/HSST ngày 02/4/2019 của Toà án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc nhận định bản án này là nhân thân); Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2019/HSST ngày 02/4/2019 của Toà án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc Xử K 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2018 và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm (khối lượng ma tuý là 0,1078 gam Heroin). K ra trại ngày 27/02/2021, nộp án phí ngày 10/5/2019; Bị can bị bắt tạm giữ từ ngày 15/10/2023, do bị can là đối tượng nghiện ma tuý, đã có tiền án về tội mua bán trái phép chất ma tuý, không có công ăn việc làm ổn định, thường xuyên tụ tập các đối tượng nghiện trong và ngoài địa bàn gây mất an ninh trật tự, nếu để K ngoài xã hội sẽ tiếp tục phạm tội, chính quyền địa phương không quản lý được nên ngày 18/10/2023, Cơ quan điều tra ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can, Lệnh tạm giam đối với K. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P; (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 50 phút ngày 15/10/2023, tại khu vực gần đường sắt thuộc tổ B, khu C, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác của Công an thành phố V phát hiện và kiểm tra một người đàn ông đang có biểu hiện vi phạm pháp luật. Người này tự khai họ tên là Trần Kim K, sinh năm xxxx, trú tại thôn T, xã V, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình kiểm tra, K tự giác lấy từ trong túi quần đang mặc ra giao nộp: 02 gói giấy có đặc điểm là 01 gói có hai mặt đều màu trắng, 01 gói giấy hai mặt đều màu trắng có dòng kẻ và chữ in bên trong, cả hai gói giấy đều chứa chất bột cục màu trắng và khai nhận đây là gói ma túy H của K mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong thu giữ 02 gói ma túy trên. Ngoài ra, còn tạm giữ của K: 01 điện thoại di động vỏ màu đen nhãn hiệu Nokia số Imei1: 356851075321105 kèm sim số 034285xxxx. Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra kết quả xét nghiệm ma túy bằng que thử nước tiểu đối với K, kết quả dương tính với chất ma túy.

Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số chất bột cục màu trắng thu giữ của Trần Kim K. Tại bản Kết luận giám định số 1334/KL-KTHS ngày 18/10/2023 của Phòng K1- Công an tỉnh P, kết luận:

“Chất bột, cục màu trắng chứa trong 02 gói giấy gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là 0,255 gam, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 và Nghị định số: 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022, của Chính P; quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất”.

Hoàn trả lại 0,182 gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.

Về nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ, K khai nhận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 15/10/2023, K đi nhờ xe của người qua đường (K không biết tên, tuổi, địa chỉ) đến khu vực gần bệnh viện đa khoa huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc mục đích để tìm mua ma tuý heroin. Tại đây, K gặp Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1978, trú tại: Thôn S, xã V, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. K hỏi và mua của T1 02 gói ma tuý H có đặc điểm đều là gói giấy trong đó 01 gói có mặt ngoài và mặt trong màu trắng có dòng kẻ và chữ, 01 gói mặt ngoài và mặt trong đều màu trắng, cả 02 gói đều chứa chất bột cục màu trắng với giá 400.000đồng. Sau đó, K cầm 02 gói ma tuý mua được đút vào túi quần đang mặc và đi sang thành phố V để tìm việc làm. Khi đi đến khu vực gần cầu V thuộc huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc, K mở 01 gói ma tuý ra, tách một phần sử dụng cho bản thân, phần còn lại K gói lại như cũ và đút cả hai gói ma tuý vào túi quần đang mặc. Sau đó, K tiếp tục đi nhờ xe của một người qua đường sang thành phố V. Khi đi đến khu vực đường sắt thuộc tổ B, khu C, phường N, thành phố V thì bị tổ công tác của Công an thành phố V kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Căn cứ lời khai của K, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Hữu T1 tại thôn S, xã V, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, kết quả không thu giữ gì. Cơ quan điều tra triệu tập Nguyễn Hữu T1 lên làm việc và đối chất với K. T1 không thừa nhận việc bán ma tuý cho K như K đã khai. Ngoài lời khai của K không có tài liệu khác chứng minh. Do đó, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ xử lý đối với T1.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý ngày 15/10/2023 của Trần Kim K, Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức phạt cảnh cáo.

Về điều kiện kinh tế của bị cáo: Quá trình điều tra xác định: Ngoài đồ dùng sinh hoạt hàng ngày, bị can không có tài sản nào khác có giá trị.

Tại Cáo trạng số: 169/CT-VKS-VT ngày 20 tháng 12 năm 2023, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, truy tố bị cáo Trần Kim K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249; của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố; Sau khi luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Trần Kim K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;

- Áp dụng Điểm c khoản 1, 5 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Trần Kim K 30 tháng tù đến 33 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/10/2023.

- Về hình phạt bổ sung: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại của bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị giải quyết theo pháp luật.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Kim K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Hồi 09 giờ 50 phút ngày 15/10/2023, tại khu vực gần đường sắt thuộc tổ B, khu C, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Trần Kim K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, khối lượng 0,255 gam Hêrôin, với mục đích để sử dụng cho bản thân, thì bị Tổ công tác Công an thành phố V bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

[2.2]. Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Kim K phù hợp với thời gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở và căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Trần Kim K đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt mà bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, như cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

… c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

[2.3]. Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn thể hiện sự coi thường bất chấp pháp luật, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân và gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt thật nghiêm mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung về tội phạm cho xã hội.

[2.4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Trần Kim K thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, nhưng bị cáo K có nhân thân rất xấu, đã từng 02 lần bị Tòa án xử phạt về hành vi phạm tội, trong đó có 01 hành vi phạm tội về ma túy, đến nay đều đã được xóa án tích. Như vậy, thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật. Vì vậy, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người tốt, có ích sau này cho xã hội.

[3]. Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh, Cơ quan điều tra xác định bị cáo K ngoài đồ dùng phục vụ sinh hoạt hàng ngày, không có tài sản gì riêng ngoài tài sản là 01 điện thoại di động vỏ màu đen nhãn hiệu Nokia mà cơ quan Công an thu giữ; chiếc điện thoại này bị cáo K dùng để liên lạc hàng ngày, không sử dụng vào hành vi phạm tội. Do vậy, cần áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự tịch thu sung quỹ Nhà nước là phù hợp.

[4]. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,182 gam chất bột cục màu trắng, trong 01 bì niêm phong số 1334/KL-KTHS, của Phòng K1 - Công an tỉnh P trả lại sau khi giám định, là vật mà Nhà nước cấm lưu hành và 01 Sim điện thoại thu giữ của bị cáo K, do không có giá trị sử dụng là phù hợp.

[5]. Các vấn đề khác:

[5.1]. Đối với Nguyễn Hữu T1, Cơ quan CSĐT đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T1 tại thôn S, xã V, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, kết quả không thu giữ gì. Đồng thời, Cơ quan CSĐT đã triệu tập T1 và đối chất với bị cáo K. Nhưng T1 không thừa nhận việc bán ma tuý cho K như K đã khai. Ngoài lời khai của K không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, Cơ quan CSĐT không đủ căn cứ xử lý đối với T1, xét thấy là phù hợp.

[5.2]. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý ngày 15/10/2023 của Trần Kim K, Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức phạt cảnh cáo, là phù hợp.

[6]. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[7]. Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào: Điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội; quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

2. Tuyên bố bị cáo Trần Kim K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

3. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trần Kim K 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/10/2023.

4. Về hình phạt bổ sung: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động, vỏ màu đen, nhãn hiệu Nokia số Imei1: 356851075321105, mà Công an thu giữ của bị cáo Trần Kim K; (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/11/2023, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ).

5. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,182 gam chất bột cục màu trắng, trong 01 bì niêm phong số 1334/KL-KTHS của Phòng K1- Công an tỉnh P, là mẫu vật hoàn trả sau giám định và 01 Sim số 034285xxxx bên trong chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia thu giữ của bị cáo Trần Kim K.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/11/2023, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ).

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

56
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý số 180/2023/HS-ST

Số hiệu:180/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Việt Trì - Phú Thọ
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:22/12/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về