TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN
BẢN ÁN 175/2024/HS-ST NGÀY 28/06/2024 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường UBND phường Đông Vĩnh, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 173/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 06 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 212/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 06 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Duy D; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 15 tháng 3 năm 1961 tại huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Nơi thường trú: khối C, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 07/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Duy Đ (Chết) và bà: Nguyễn Thị C (Chết); Vợ: Thái Thị B, sinh năm 1962 (Đã ly hôn); Con: có 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1997;
Tiền sự, nhân thân: Không;
Tiền án: [1] Bản án số 315/HSST ngày 17/9/2004, TAND thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ra trại tháng 12/2006. [2] Bản án số 81/2008/HSST ngày 06/3/2008, TAND thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ra trại ngày 18/7/2009. [3] Bản án số 350/2011/HSST ngày 31/8/2011, TAND thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 08 (T) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ra trại ngày 07/7/2018. [4] Bản án số 01/2020/HSST ngày 16/01/2020, TAND huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 (Hai) năm 09 (C1) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong ra trại ngày ngày 17/4/2022.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/4/2024 đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng chất ma túy nên vào khoảng 16 giờ ngày 15/4/2024, Nguyễn Duy D đi đến khu vực cầu B, thuộc khối A, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An gặp một người đàn ông không quen biết hỏi mua của người này ma túy đá thì người này đồng ý. Nguyễn Duy D đưa cho người này số tiền 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng). Người đàn ông cầm tiền đi một lúc sau quay lại đưa cho D một gói ma túy đá có đặc điểm bên ngoài được bọc bằng bao nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. Sau khi mua được ma túy, Nguyễn Duy D đưa về nhà riêng tại số nhà E đường N, thuộc khối C, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An rồi cất giấu vào thùng nhựa màu đỏ để dưới chân cầu thang tầng 1 với mục đích là để khi nào có nhu cầu thì đưa ra sử dụng. Khoảng 16 giờ ngày 16/4/2024, khi D đang ở nhà thì Công an phường B vào kiểm tra, D đã tự nguyện lấy gói ma túy đá có đặc điểm bên ngoài được bọc bằng bao nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng mà D mua vào ngày 15/4/2024 ra giao nộp cho tổ công tác và trình bày gói ma túy đá trên D cất giấu để sử dụng. Người cùng tang vật được đưa về trụ sở Công an phường B, thành phố V lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V, Nguyễn Duy D đã khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 16/4/2024 và Kết luận giám định số: 434/KL-KTHS(Đ2- MT) ngày 21/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Duy D gửi đến giám định là ma túy; loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,160g (không phẩy một trăm sáu mươi gam) Vật chứng vụ án: 01 (Một) phong bì niêm phong dán kín bên trong đựng số ma túy; loại Methamphetamine thu giữ của Nguyễn Duy D, được bảo quản tại kho vật chứng Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Vinh.
Bản Cáo Trạng số 188/CT-VKS-TPV ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Duy D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ quyền công tố luận tội tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Duy D từ 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 06 (S) năm tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy ma túy đã được niêm phong dán kín.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết và không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Xét hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy D hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 16 giờ ngày 16/4/2024, tại số nhà E đường N, thuộc khối C, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Nguyễn Duy D đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 (Một) gói ma túy (M) có khối lượng 0,160g (không phẩy một trăm sáu mươi gam), mục đích để sử dụng thì bị Tổ công tác Công an phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An, phát hiện, bắt quả tang. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự.
Xét bị cáo đã có 04 tiền án chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, lần này phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố bị cáo Nguyễn Duy D theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2.2]. Xét tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo đã nhiều lần bị kết án, đã được cải tạo giáo dục, nhận thức được tác hại do ma túy mang lại cho con người và xã hội nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà còn tiếp tục phạm tội về ma túy, thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố bị cáo có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[2.3]. Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội này ngoài hình phạt chính là phạt tù còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy, không có thu nhập ổn định, không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[2.4]. Trong vụ án này, theo lời khai của bị cáo, số ma túy mà bị cáo có được là do bị cáo mua của một người đàn ông nhưng bị cáo không biết lai lịch cụ thể nên cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
[2.5]. Về xử lý vật chứng: Ma túy là vật cấm lưu hành, tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.
[2.6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Duy D 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/4/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy ma túy trong phong bì thư đã được niêm phong dán kín hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo Phiếu nhập kho vật chứng số NK 2024/211 ngày 24/6/2024.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Nguyễn Duy D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 175/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 175/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Vinh - Nghệ An |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 28/06/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về