Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 171/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

BẢN ÁN 171/2024/HS-ST NGÀY 30/08/2024 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 160/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1/ HỎA SƠN N (tên gọi khác: C), sinh ngày 13 tháng 9 năm 2001 tại Gia Lai; thường trú: Thôn KZ, xã IT, huyện CS, tỉnh Gia Lai và chổ ở: Phòng số 06, dãy trọ hẻm 28B BD, tổ 11, phường HL, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hỏa Văn T, sinh năm 1975 và bà Phạm Thị S, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ, con;

Nhân thân xấu:

- Công an huyện CS xử phạt bằng hình thức phạt tiền theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 343/QĐ – XPHC ngày 31 tháng 12 năm 2019; bị cáo đã nộp phạt theo Biên lai số 17950 ngày 08 tháng 01 năm 2020.

- Công an huyện CS xử phạt bằng hình thức phạt tiền theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 39/QĐ – XPVPHC ngày 18 tháng 02 năm 2020; bị cáo đã được giao quyết định nhưng chưa nộp phạt.

Tiền án: Ngày 20 tháng 7 năm 2021 Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xử phạt 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; chấp hành án tại Trại giam Gia Trung; ngày 09 tháng 11 năm 2021, chấp hành xong án phí; ngày 29 tháng 3 năm 2023, chấp hành xong hình phạt.

Tiền sự: Không Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 06 tháng 3 năm 2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt tại phiên tòa.

2/ PHẠM BÁ DUY T (tên gọi khác: SP), sinh ngày 15 tháng 12 năm 2000 tại Gia Lai; thường trú: Thôn PT, xã IB, huyện CP, tỉnh Gia Lai và chổ ở: Phòng số 06, dãy trọ hẻm 28B BD, tổ 11, phường HL, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Bá P, sinh năm 1964 và bà Lê Thị Kim Y, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ, con; nhân thân tốt; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 06 tháng 3 năm 2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt tại phiên tòa.

Người tham gia tố tụng khác:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Ngọc B, sinh năm 1960; nơi cư trú: Dãy trọ hẻm 28B BD, tổ 11, phường HL, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

Người chứng kiến: Bà Lê Thị O, sinh năm 1965; địa chỉ: Tổ 11, phường HL, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hỏa Sơn N và Phạm Bá Duy T có quan hệ quen biết và cùng ở trọ tại phòng số 6, hẻm 28B đường BD, tổ 11, phường HL, thành phố P, tỉnh Gia Lai. N và T đều có sử dụng chất ma túy; qua các mối quan hệ ngoài xã hội, N có số điện thoại của đối tượng L (chưa rõ nhân thân, lai lịch) là người bán ma túy Khoảng 17 giờ ngày 06 tháng 3 năm 2024, N rủ T mua ma túy mang về phòng trọ cất giấu để sử dụng dần; T nói: “Chưa có tiền” thì N nói để N mua trước, khi nào T có tiền thì đưa lại cho N sau, nên T đồng ý. N đã gọi điện thoại cho L hỏi mua 5.000.000 đồng ma túy Khay và thuốc Lắc. L đồng ý và hẹn giao dịch tại khu vực đường Lê Thị Hồng G, phường YĐ, thành phố P. Sau đó, N đón xe thồ của một người đàn ông (chưa rõ nhân thân, lai lịch) chở đến điểm hẹn và đã mua của L 03 bì nilon chứa ma túy Khay và 01 bì nilon chứa 15 viên ma túy thuốc Lắc với số tiền 5.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, N đi xe thồ mang ma túy về phòng trọ, rồi đưa cho T xem. Đến 19 giờ 30 phút ngày 06 tháng 3 năm 2024, khi N và T đang để ma túy trên nền nhà với mục đích để chia nhỏ rồi sử dụng, thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an thành phố P đến kiểm tra. Lúc này, T liền cầm toàn bộ số ma túy chạy vào nhà vệ sinh chuẩn bị vứt vào bồn cầu để xả nước thì bị bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng, gồm: 03 bì nilon bên trong chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể (được niêm phong theo quy định, ký hiệu “1”), 01 bì nilon bên trong chứa 15 viên nén màu vàng (được niêm phong theo quy định, ký hiệu “2”). Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của N 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng kèm sim số, thu giữ của T 01 chiếc di động hiệu Oppo màu hồng kèm sim số. Sau xét nghiệm, xác định: N và T dương tính với ma túy loại MDMA và Ketamine, Qua trưng cầu, tại Kết luận giám định số 304/KL- KTHS ngày 15 tháng 3 năm 2024 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai, kết luận:

“- Toàn bộ chất màu trắng dạng tinh thể trong 03 (ba) bì nilon trong bì công văn ghi “1” gửi giám định đều là ma túy, loại Ketamine, tổng khối lượng 9,6277 gam.

- 15 (mười lăm) viên nén màu vàng trong 01 (một) bì nilon trong bì công văn ghi “2” gửi giám định đều là ma túy, loại MDMA, tổng khối lượng 5,5165 gam” Tại Bản cáo trạng số 176/CT - VKS ngày 31 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P truy tố các bị cáo Hỏa Sơn N và Phạm Bá Duy T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo Hỏa Sơn N và Phạm Bá Duy T thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, các bị cáo đồng ý với nội dung truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P nêu trong Bản cáo trạng. Bị cáo N và T cũng không có ý kiến khiếu nại gì đối với Kết luận giám định của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

Về tội danh: Đề nghị xét xử các bị cáo Hỏa Sơn N và Phạm Bá Duy T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo N; không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với T.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho các bị cáo N và T Về hình phạt:

- Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 với mức hình phạt từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đối với bị cáo Hỏa Sơn N.

- Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 với mức hình phạt từ 06 (sáu) năm đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù đối với bị cáo Phạm Bá Duy T.

Ngoài ra Đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất không áp dụng hình phạt bổ sung, hướng xử lý vật chứng và án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối tượng tên L là người đã bán ma túy cho N, quá trình điều tra N không biết nhân thân, lai lịch của L. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã kiểm tra danh bạ, cuộc gọi, tin nhắn trong điện thoại của N nhưng không xác định được số điện thoại của L cũng như tin nhắn có nội dung liên quan đến mua bán ma túy; tiến hành xác minh tại ngã tư đường Lê Thị Hồng G, phường YĐ, thành phố P nhưng không xác định được đối tượng tên L nên chưa có căn cứ để điều tra xử lý. Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh và xử lý sau.

[2] Về hành vi của các bị cáo: Sau khi Phạm Bá Duy T đồng ý cùng góp tiền mua ma túy, Hỏa Sơn N đã liên hệ và mua ma túy của đối tượng L với giá 5.000.000 đồng được 03 (ba) bì ma túy Khay và 15 (mười lăm) viên thuốc Lắc mang về phòng trọ cất để sử dụng dần. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 06 tháng 3 năm 2024 tại phòng số 6, hẻm 28B đường BD, tổ 11, phường HL, thành phố P, tỉnh Gia Lai khi T cầm toàn bộ ma túy đang để dưới nền nhà chạy vào nhà vệ sinh chuẩn bị bỏ vào bồn cầu để xả nước thì bị lực lượng điều tra tội phạm về Ma túy Công an thành phố P bắt quả tang thu giữ vật chứng. Qua giám định, 03 (ba) bì nilon chứa 9,6277 gam ma túy loại Ketamine và 15 (mười lăm) viên nén là ma túy loại MDMA với khối lượng 5,5165 gam MDMA là chất ma túy nằm trong danh mục I.B thuộc danh mục chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và đời sống xã hội; việc sử dụng các chất này trong nghiên cứu, kiểm nghiệm, giám định, điều tra tội phạm theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền; Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III là chất ma túy được sử dụng trong nghiên cứu, kiểm nghiệm, giám định, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế, thú y theo quy định của cơ quan có thẩm quyền được ban hành kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Việc sản xuất, vận chuyển, tàng trữ chất MDMA và Ketamine phải tuân thủ theo quy định của pháp luật.

Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định như sau “ 1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR - 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05gam ….g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam …2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

….g) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR - 11 có khối lượng từ 05gam đến dưới 30gam …l) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam”.

Xác định tỷ lệ % về khối lượng theo khoản 3 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 “Trường hợp các chất ma túy đều có khối lượng hoặc thể tích dưới mức tối thiểu đối với từng chất đó theo quy định tại khoản 3 của một trong các Điều 248, 249, 250, 251, 252 của Bộ luật Hình sự năm 2015, trong đó có ít nhất một chất ma túy có khối lượng hoặc thể tích thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 của một trong các điều này thì xác định tổng khối lượng hoặc thể tích các chất ma túy … Nếu tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng hoặc thể tích của các chất ma túy dưới 100% thì tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất ma túy thuộc trường hợp quy định tại điểm k khoản 2 Điều 248 hoặc thuộc trường hợp quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 ...” Dựa trên tổng khối lượng của từng loại ma túy, tổng tỷ lệ % về khối lượng ma túy được xác định dưới 100%.

Như vậy hành vi của các bị cáo Hỏa Sơn N và Phạm Bá Duy T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân thành phố P đã truy tố.

MDMA, Ketamine là chất ma túy có nguồn gốc tổng hợp, sử dụng lâu dài ảnh hưởng đến hệ thần kinh, sức khỏe của người nghiện. Các bị cáo nhận thức được việc tàng trữ ma túy để sử dụng là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý độc quyền chất ma túy của nhà nước, nguồn gốc phát sinh các tội phạm và những tệ nạn xã hội khác nhưng để thỏa mãn nhu cầu bản thân bị cáo vẫn thực hiện. Vì vậy cần áp dụng hình phạt tù tương xứng tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo mới đủ sức răn đe, cảnh tỉnh các bị cáo trở thành công dân tốt. Trong đó, bị cáo Hỏa Sơn N là người khởi xướng, có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử phạt hành chính, vừa chấp hành xong hình phạt cũng về tội phạm liên quan đến ma túy, chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó mức hình phạt của bị cáo N cần cao hơn bị cáo Phạm Bá Duy T.

Tuy nhiên bị cáo T có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi quyết định.

[3] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Hỏa Sơn N và Phạm Bá Duy T.

[4] Về vật chứng vụ án:

- Đối với 02 (hai) bì công văn ghi số “1”, “2” và số 304/PC09 ngày 15 tháng 3 năm 2024, có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai là ma túy còn lại sau khi giám định được hoàn trả, xét đây là tang vật của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu IPhone màu vàng, kèm sim số - đây là tài sản của bị cáo Hỏa Sơn N; bị cáo đã sử dụng làm phương tiện liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu hồng, kèm sim số - đây là tài sản của bị cáo Phạm Bá Duy T, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo. [5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Hỏa Sơn N và Phạm Bá Duy T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” - Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Hỏa Sơn N 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 06 tháng 3 năm 2024.

- Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Phạm Bá Duy T 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 06 tháng 3 năm 2024.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bì công văn dán kín cùng ghi số 304/PC09 ngày 15 tháng 3 năm 2024, có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai có ghi “số 1”, “số 2” (có các chữ ký của Nguyễn Thế M, Nguyễn Minh T, Nguyễn Đại H) Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu IPhone màu vàng, kèm sim số, mặt sim có dãy số 8984048000914218686 (điện thoại cũ, đã qua sử dụng, vỡ nát màn hình trước, Chi cục Thi hành án dân sự không kiểm tra tình trạng bên trong) Hoàn trả cho bị cáo Phạm Bá Duy T 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu hồng, kèm sim số, mặt sim có dãy số 8401220512049536 (điện thoại cũ, đã qua sử dụng, Chi cục Thi hành án dân sự không kiểm tra tình trạng bên trong) (Tất cả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06 tháng 8 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P).

- Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc các bị cáo Hỏa Sơn N và Phạm Bá Duy T, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo để Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

112
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 171/2024/HS-ST

Số hiệu:171/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Pleiku - Gia Lai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/08/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về