TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HOÁ
BẢN ÁN 149/2021/HS-ST NGÀY 01/12/2021 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Trong ngày 01 tháng 12 năm 2021 tại Hội trường xét xử TAND thị xã N, tỉnh H đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 149/2021/HSST ngày 18/10/2021. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2021/QĐXXST- HS, ngày 15/11/2021 đối với bị cáo:
1. TỐNG ĐÌNH C – Sinh năm: 1993; Nơi sinh và nơi ở hiện nay: TDP Thanh M, phường Tân D, thị xã Nghi S, Thanh H; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12;
Con ông: Tống Đình Hồng – Sinh năm 1972 và con bà Lê Thị D – Sinh năm 1973; Tiền án: Ngày 05/9/2018 bị TAND huyện G nay là TAND thị xã N xử phạt 24 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong hình phạt từ ngày 22/8/2019. Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 22/9/2021, bị Công an thị xã N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Tháng 9/2012 đến 7/2014, phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/8/2021 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: chị Lê Thị H – Sinh năm 1993 + chị Lê Thị D – Sinh năm 1973 Đều trú tại: TDP Thanh M, phường Tân D, thị xã Nghi S, tỉnh Thanh H
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 26/6/2021, trong quá trình điều tra, xác minh vụ án Lê Bá B tàng trữ trái phép chất ma túy, trên cơ sở lời khai của B về nguồn gốc số ma túy B khai trước đó mua của người đàn ông tên C D ở TDP Thanh M, phường Tân D, thị xã Nghi S. Mở rộng điều tra, xác minh về người bán ma túy cho B, CQĐT đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Tống Đình C, thu giữ tại góc tường bên phải phòng ngủ trong nhà C 01 túi nilong màu đen, bên trong có 02 túi nilon màu trắng, viền màu xanh đều chứa các hạt tinh thể màu trắng.
Tại kết luận giám định số 2162/PC09 ngày 06/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H kết luận: Các hạt tinh thể màu trắng bên trong túi nilong màu trắng, thu giữ khi khám xét chỗ ở của C là ma túy, có tổng khối lượng là 1,372gam loại Methamphetamine.
Tại cơ quan điều tra C khai nhận toàn bộ số ma túy trên là của C cất giấu để sử dụng dần. Tuy nhiên bị cáo không thừa nhận hành vi bán ma túy cho Lê Bá B vì vậy CQĐT đã tiến hành đối chất giữa C và B nhưng không đủ căn cứ để truy tố trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy đối với C.
Nguồn gốc số ma túy C khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực chợ Kho vào trưa ngày 26/6/2021 với giá 01 triệu đồng mục đích tàng trữ để sử dụng dần.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo nhận tội và không có ý kiến gì về nội dung bản cáo trạng mà VKS ND thị xã N truy tố bị cáo.
Bản cáo trạng số 155/CT-VKSNS - HS ngày 18/10/2021 của VKSND thị xã N đã truy tố Tống Đình C về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý''.
Tại phiên tòa Đại diện VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS và Điều 38 BLHS và đề nghị mức hình phạt từ 24 đến 27 tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, lời khai của bị cáo có trong hồ sơ cũng như tại phiên tòa đã khai nhận rõ: Ngày 26/6/2021, Tống Đình C đã có hành vi tàng trữ 1,372 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và cần xử phạt nghiêm theo quy định của pháp luật.
Đại diện VKS thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý'' theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với tang vật cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ, phù hợp với lời kết luận của đại diện VKS. Do vậy có đủ cơ sở kết luận:
Hành vi phạm tội của bị cáo có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý'' theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.
[3]. Xét tính chất vụ án:
Trong những năm qua tình hình về tội phạm ma túy dưới mọi hình thức trong cả nước nói chung và trên địa bàn thị xã N nói riêng ngày càng tăng. Bị cáo đủ nhận thức để hiểu được những tác hại do ma túy gây ra và các hành vi về tàng trữ, mua bán, sử dụng, lôi kéo người khác ... đều vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện và thực hiện tới cùng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy, gây nên dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình trật tự an ninh, an toàn xã hội, và ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của bị cáo nói riêng cũng như tiếp tay cho những kẻ buôn bán trái phép chất ma túy. Vì vậy cần phải lên cho bị cáo một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình.
[4]. Xét về nhân thân và trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội có một tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Sau khi phạm tội đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật nên đã thật thà, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có thời gian phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt nam nên khi lượng hình được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS. Với tính chất mức độ, nhân thân và hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện hút, mục đích của bị cáo phạm tội là để sử dụng nên nghĩ không cần áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS.
[5]. Xét về vật chứng gồm: Cần tịch thu tiêu hủy số ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định hiện đang được lưu giữ tại kho chi cục thi hành án dân sự thị xã N.
Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự 2015.
- Tuyên bố: Tống Đình C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Xử phạt: Tống Đình C 24 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt của bị cáo tính từ ngày 18/8/2021. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- Về vật chứng: Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy một phong bì do phòng KTHS Công an tỉnh H phát hành được dán kín niêm phong bên trong đựng toàn bộ bao gói mở niêm phong của phong bì và 1,278 gam theo kết luận giám định là ma túy loại Methamphetamine hiện đang lưu giữ tại kho của Chi cục THADS thị xã N theo phiếu NK2022/11 ngày 20/10/2021 của Chi cục THADS thị xã N, H.
- Án phí : Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và điểm 1 mục I bản danh mục án phí, lệ phí tòa án.
- Bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và 333 BL TTHS. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận THA, quyền yêu cầu THA, tự nguyện THA hoặc bị cưỡng chế THA theo quy định tại Điều 6, 7a và 9 Luật THA dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THA dân sự
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 149/2021/HS-ST
Số hiệu: | 149/2021/HS-ST |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thị xã Nghi Sơn - Thanh Hoá |
Lĩnh vực: | Hình sự |
Ngày ban hành: | 01/12/2021 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về