Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 14/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 14/2024/HS-ST NGÀY 01/03/2024 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 01 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H, tỉnh B xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 06/2024/HSST ngày 25 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện H đối với bị cáo:

Nguyễn Hồng T, sinh năm 1983 tại B; giới tính: nam. Nơi cư trú: khu phố X, thị trấn Y, huyện H, tỉnh B. Quốc tịch: Việt Nam ; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không.

Nghề nghiệp: thợ hàn; Trình độ học vấn: 8/12.

Con ông Nguyễn Hồng L, sinh năm 1949 và bà Bùi Thị N, sinh năm 1950.

Anh chị em ruột: 05 người, bị cáo là con thứ 04 trong gia đình.

Vợ: Trần Thị H1, sinh năm 1985 (đã ly hôn); con: 01 người con sinh năm 2005. Nơi cư trú: khu phố X, thị trấn Y, huyện H, tỉnh B.

Nhân thân: không.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/12/2023.

Có mặt.

- Người chứng kiến:

NCK, sinh năm 1991. Nơi cư trú: khu phố F, thị trấn Y, huyện H, tỉnh B. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào tối ngày 06/11/2023, Nguyễn Hồng T nhờ người bạn quen biết ngoài xã hội tên Ch (không rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua giùm 100.000 đồng ma túy thì Ch đồng ý. Sau đó Ch nói với T đi đến cầu Km 37 thuộc xã Z, huyện H gặp một người thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) và mua của người này 100.000 đồng ma túy. Sau khi có ma túy, T mang về nhà ở khu phố X, thị trấn Y sử dụng một ít, số còn lại T cất giấu trong ví da. Đến khoảng 13 giờ ngày 07/11/2023, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 54X1-xxxx đi trên đường bê tông thuộc khu phố F, thị trấn Y, huyện H, tỉnh B thì bị Công an thị trấn Y yêu cầu dừng xe kiểm tra, qua kiểm tra Công an phát hiện trong túi quần bên phải T đang mặc có một ví da, bên trong có chứa một gói nylon không màu, có khóa kéo màu xanh được hàn kín, trong gói nylon có chứa chất tinh thể màu trắng. T khai nhận đây là ma túy T mua về để sử dụng nên Công an thị trấn Y đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa T về trụ sở làm việc.

Tang vật thu giữ: 01 (một) gói nylon không màu có kích thước (03x2,5)cm được hàn kín, một đầu có khóa kéo màu xanh, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SWEAR màu đen biển kiểm soát 54X1-xxxx, số máy 6X-102471, số khung M-61002471, xe gắn dàn áo có nhãn hiệu Honda Future; 01 (một) ví da màu nâu.

Kết luận giám định số 1304/KL-KTHS ngày 14/11/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận: 01 (một) gói nylon không màu được hàn kín, kích thước (03x2,5)cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M). Mẫu M có khối lượng 0,1257 gam, là Methamphetamine.

Vật chứng vụ án: 0,0573 gam Methamphetamine còn lại sau giám định và 01 (một) gói nylon không màu được hàn kín, kích thước (03x2,5)cm đã được cắt lấy mẫu được niêm phong trong phong bì số 1304 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B; 01 (một) ví da.

Tại bản cáo trạng số 09/CT/VKSHTN-HS ngày 22 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố bị cáo Nguyễn Hồng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hồng T như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hồng T từ 01 năm đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;

điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,0573 gam Methamphetamine còn lại sau giám định và 01 (một) gói nylon không màu được hàn kín, kích thước (03x2,5)cm đã được cắt lấy mẫu được niêm phong trong phong bì số 1304 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B; 01 (một) ví da.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hồng T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Với các tài liệu, chứng cứ đã được xác minh thu thập có tại hồ sơ vụ án, đối chiếu với lời khai của bị cáo Nguyễn Hồng T và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa là phù hợp, có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 13 giờ ngày 17/11/2023 tại khu phố F, thị trấn Y, huyện H, tỉnh B bị cáo Nguyễn Hồng T đã bị lực lượng Công an huyện H phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 0,1257 gam Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân, được bị cáo cất dấu trong 01 ví da bên túi quần phải Nguyễn Hồng T đang mặc. Hành vi của bị cáo Nguyễn Hồng T là cố ý, đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Tội phạm và khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; Cáo trạng đã truy tố của Viện kiểm sát huyện H là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Hồng T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, thể hiện sự xem thường pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt đủ nghiêm khắc, mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hồng T thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Hồng T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Riêng đối tượng Ch (không rõ nhân thân, lai lịch) đã bán ma túy cho Nguyễn Hồng T. Trong tài liệu điều tra và trong hồ sơ vụ án chưa đủ căn cứ xác định và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Hồng T không khai báo thêm tình tiết mới nên chưa đủ cơ sở để xử lý, vì vậy Hội đồng xét xử không xét.

[6] Đối với xe mô tô BKS 54X1-xxxx, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định được đây là tài sản của Cao Hoàng Hải (sinh năm 1990, trú khu phố X, thị trấn Y, huyện H, tỉnh B), khi cho Nguyễn Hồng T mượn xe, Cao Hoàng Hải không biết việc T sử dụng xe mô tô trên để đi mua ma túy, do đó Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H trả lại xe mô tô trên cho Cao Hoàng Hải là có căn cứ, đúng pháp luật.

[7] Về biện pháp tư pháp: 0,0573 gam Methamphetamine còn lại sau giám định và 01 (một) gói nylon không màu được hàn kín, kích thước (03x2,5)cm đã được cắt lấy mẫu được niêm phong trong phong bì số 1304 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B; 01 (một) ví da. Xét thấy đây là vật cấm tàng trữ, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hồng T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hồng T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ: điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 0,0573 gam Methamphetamine còn lại sau giám định và 01 (một) gói nylon không màu được hàn kín, kích thước (03x2,5)cm đã được cắt lấy mẫu được niêm phong trong phong bì số 1304 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B; 01 (một) ví da.

Hiện trạng các vật chứng nêu trên theo Biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 29/02/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H.

3. Về án phí:

Căn cứ: khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Hồng T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (01/3/2024).

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

117
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 14/2024/HS-ST

Số hiệu:14/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hàm Thuận Nam - Bình Thuận
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:01/03/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về