TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B, TỈNH ĐIỆN BIÊN
BẢN ÁN 126/2023/HS-ST NGÀY 06/06/2023 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Ngày 06/6/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 126/2023/TLST- HS ngày 18/4/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2023/QĐXXST- HS ngày 24/5/2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lò Thị Th, tên gọi khác: Không, sinh năm: 1990, tại Điện Biên.
Nơi cư trú: Bản N L, xã N L, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn T (Đã chết) và bà: Lò Thị Đ, sinh năm 1965; có chồng: Nguyễn Văn Th, sinh năm 1985 và 03 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2022; Tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị Tòa án xét xử, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị bắt tạm giữ từ ngày 05/01/2023 đến ngày 07/01/2023, sau đó được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay "Có mặt".
2. Họ và tên: Đinh Văn M, tên gọi khác: Không, sinh năm: 1970, tại Sơn La.
Nơi ĐKHKTT: Bản Lá, xã Gia Ph, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Chỗ ở: Bản N C, xã P L, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 3/10; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đinh Văn T (Đã chết) và bà: Cầm Thị B (Đã chết); có vợ: Đinh Thị K (Đã ly hôn), sống như vợ chồng với Lò Thị Th, sinh năm 1980 và 03 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1993; Tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị Tòa án xét xử, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2023 cho đến nay "Có mặt".
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 02/01/2022, bị cáo Th từ nhà đi đến cánh đồng thuộc Bản N L, xã N L, huyện Đ B bị cáo gặp một người phụ nữ (không biết tên và địa chỉ) mua được 01 túi Methamphetamine với giá tiền là 300.000 đồng và được người này cho 01 gói Heroine. Về nhà bị cáo cho số ma túy vào trong lọ nhựa màu trắng, nắp đậy màu xanh rồi cất ở trong chạn bát với mục đích là để bán. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 05/01/2023, bị cáo M đi xe mô tô BKS 27B1 – 405.xx đến nhà bị cáo Th hỏi mua 270.000 đồng ma túy và bị cáo Th đã bán gói Heroine và 03 viên Methamphetamine cho bị cáo M. Mua xong bị cáo M cầm số ma túy ở tay trái rồi điều khiển xe về nhà. Hồi 11 giờ 50 phút cùng ngày khi bị cáo M đến khu vực bản U Va, xã N L, huyện Đ B thì bị tổ công tác Công an huyện Đ B phối hợp cùng tổ 3, kế hoạch 1266 Công an tỉnh Điện Biên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay trái của bị cáo M 01 gói ni lon màu trắng bên trong có 01 gói ni lon màu xanh có chứa 03 viên Methamphetamine và 01 gói ni lon màu trắng bên trong có chứa Heroine.
Hồi 14 giờ cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ B đã tiến hành khám xét khẩn cấp người và chỗ ở đối với bị cáo Th, thu giữ tại túi quần bên trái bị cáo đang mặc số tiền 270.000 đồng và thu giữ tại chạn bát trong bếp của bị cáo 01 lọ nhựa màu trắng có nắp đậy màu xanh bên trong có 01 túi ni lon màu trắng có chứa 25 viên Methamphetamine.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng ngày 05/01/2023 đã xác định:
- Số chất bột màu trắng thu giữ của các bị cáo Đinh Văn M có khối lượng là 0,22 gam;
- Số viên nén màu hồng thu giữ của các bị cáo Đinh Văn M có khối lượng là 0,29 gam;
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng ngày 05/01/2023 đã xác định: Số viên nén màu hồng thu giữ của các bị cáo Lò Thị Th có khối lượng là 2,35 gam;
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản kết luận giám định số: 155/KL - KTHS ngày 13/01/2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận:
- Mẫu chất bột màu trắng vật chứng thu giữ của Đinh Văn M gửi giám định là Heroine;
- Mẫu các viên nén màu hồng thu giữ của các bị cáo Đinh Văn M gửi giám định là Methamphetamine.
Tại bản kết luận giám định số: 152/KL - KTHS ngày 12/01/2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận:
Mẫu các viên nén màu hồng thu giữ của các bị cáo Lò Thị Th gửi giám định là Methamphetamine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng giám định nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 64/CT-VKSĐB ngày 17/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B đã truy tố bị cáo Đinh Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm i Khoản 1 Điều 249/BLHS; bị cáo Lò Thị Th về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251/BLHS Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Đ B vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm i Khoản 1 Điều 249/BLHS, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51/BLHS đối với bị cáo M, đề nghị xử phạt bị cáo M từ 16 đến 19 tháng tù. Áp dụng Khoản 1 Điều 251/BLHS, Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS đối với bị cáo Th, đề nghị xử phạt bị cáo Th từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.
Căn cứ Điểm a, b, c Khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, b, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 0,22 gam Heroine, gửi giám định toàn bộ ( hoàn lại mẫu vật sau khi giám định 0,16 gam; 2,64 gam Methamphetamine, gửi giám định toàn bộ ( hoàn lại mẫu vật sau khi giám định 2,13 gam Methamphetamine; 01 lọ nhựa màu trắng có nắp đậy màu xanh); tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 270.000đ do bị cáo Th bán ma túy mà có và 01 chiếc xe mô tô BKS 27B1-405.xx, nhãn hiệu YAMAHA, đã cũ do bị cáo M dùng vào việc phạm tội;
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Bị cáo M phải chịu 200.000đ án phí HSST, bị cáo Th được miễn án phí.
Các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận gì với Luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Tôi biết hành vi của tôi là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình của tôi, cho tôi xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi của các bị cáo: Hồi 11 giờ 50 phút, ngày 05/01/2023 bị cáo M đã có hành vi cất giấu trên tay phải 0,29 gam Methamphetamine và 0,22 gam Heroine. Tổng khối lượng hai chất ma túy bị cáo M cất giấu là 0,51 gam với mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội của tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, kết luận giám định, kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố. Với hành vi của bị cáo và khối lượng ma túy bị thu giữ thì bị cáo đã phạm vào tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 249/BLHS.
Cùng ngày hồi 14 giờ, tại nhà của bị cáo Th Bản N L, xã N L, huyện Đ B, bị cáo Th có hành vi cất giấu trên người 2,35 gam Methamphetamine mục đích để bán kiếm lời. Trước đó hồi 11 giờ 30 phút cùng ngày bị cáo Th đã bán cho bị cáo M 02 gói ma túy có tổng khối lượng 0,51 gam thu về số tiền 270.000 đồng, nên tổng khối lượng các chất ma túy bị cáo Th phải chịu trách nhiệm hình sự là 2,86 gam. Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, kết luận giám định, kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố. Với hành vi và khối lượng ma túy bị thu giữ thì bị cáo đã phạm vào tội: "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại Khoản 1 Điều 251/BLHS.
Các bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
[2]. Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội; đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bởi vì, ma túy là một hiểm họa của nhân loại, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác. Chính vì thế mà Nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma túy. Các bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý, nhận thức được hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Tội phạm mà các bị cáo vi phạm là nghiêm trọng, nên cần phải xử lý theo quy định của pháp luật.
[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Sau khi phạm tội và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS. Bị cáo M có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 2 Điều 51/BLHS.
Để cải tạo các bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp, cần chấp nhận.
[4]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Công an huyện Đ B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 và Khoản 5 Điều 251/BLHS là phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy bị cáo M là đối tượng nghiện ma túy, bị cáo Th có hoàn cảnh kinh tế khó khăn không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6]. Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ và đã bán cho bị cáo M, bị cáo Th mua của một người phụ nữ ( không biết tên, địa chỉ), nên Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ B không đủ cơ sở làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật. Số tiền 270.000 đồng là do bị cáo Th bán ma túy cho bị cáo M mà có.
[7]. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a Khoản 1 Điều 23, Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo M phải chịu 200.000đ án phí HSST, bị cáo Th là hộ nghèo nên được miễn án phí HSST.
[8]. Vật chứng: 0,22 gam Heroine, gửi giám định toàn bộ (hoàn lại mẫu vật sau khi giám định là 0,16 gam); 2,64 gam Methamphetamine gửi giám định toàn bộ (hoàn lại mẫu vật sau khi giám định là 2,13 gam); 01 lọ nhựa màu trắng có nắp đậy màu xanh cần tịch thu tiêu hủy và tịch thu sung quý nhà nước số tiền 270.000đ do bị cáo Th phạm tội mà có, 01 chiếc xe mô tô BKS 27B1-405.xx, nhãn hiệu YAMAHA, đã cũ do bị cáo M dùng vào việc phạm tội; theo quy định tại Điểm a, b, c Khoản 1 Điều 47/BLHS, Điểm a, b, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Điểm i Khoản 1 Điều 249/BLHS, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 38/BLHS đối với bị cáo M.
- Căn cứ Khoản 1 Điều 251/BLHS, Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS đối với bị cáo Th.
1. Tuyên bố:
- Bị cáo Đinh Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Bị cáo Lò Thị Th phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Lò Thị Th 04 năm tù, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/01/2023 đến ngày 07/01/2023. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Đinh Văn M 01 năm 05 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 05/01/2023.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
3. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a Khoản 1 Điều 23, Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo M phải chịu 200.000đ án phí HSST, bị cáo Th được miễn án phí.
4. Về vật chứng: Căn cứ Điểm a, b, c Khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a, b, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS: Tịch thu, tiêu hủy 0,22 gam Heroine, gửi giám định toàn bộ (hoàn lại mẫu vật sau khi giám định là 0,16 gam); 2,64 gam Methamphetamine gửi giám định toàn bộ (hoàn lại mẫu vật sau khi giám định là 2,13 gam); 01 lọ nhựa màu trắng có nắp đậy màu xanh cần tịch thu tiêu hủy và tịch thu sung quý nhà nước số tiền 270.000đ do bị cáo Th phạm tội mà có, 01 chiếc xe mô tô BKS 27B1-405.xx, nhãn hiệu YAMAHA, số loại SURIUS, màu sơn đỏ đen, có số khung: RLCS5C6K0GY2643xx, số máy: 5C6K-2643xx; đã qua sử dụng do bị cáo M dùng vào việc phạm tội;
(Vật chứng đã được công an huyện Đ B chuyển cho chi cục thi hành án dân sự huyện Đ B ngày 17/4/2023).
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 BLTTHS; Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 126/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 126/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Điện Biên - Điện Biên |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 06/06/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về