Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 125/2023/HS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 125/2023/HS-ST NGÀY 21/12/2023 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 115/2023/HSST ngày 01/12/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2023/QĐXXST- HS ngày 08/12/2023 đối với:

Bị cáo: Lữ Văn T, sinh năm 1996. Nơi ĐK HKTT: Bản L, xã Châu P, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lữ Văn X và bà Lô Thị T1; Vợ: Lang Thị L; Con: có 01 con sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/9/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Thuận Thành. (Có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo T: Bà Nguyễn Thị C - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ ngày 28/9/2023, tại khu vực trước cửa quán Trà Chanh 1975 ở khu phố M, phường H, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, lực lượng Công an thị xã Thuận Thành bắt quả tang Lữ Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ gồm: Thu tại lòng bàn tay phải của T 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong vỏ túi bóng nilon bọc ngoài bao thuốc lá có 01 gói giấy màu trắng, bên trong gói giấy có 01 túi nilon màu trắng viền màu xanh bên trong chứa chất bột màu trắng. (T khai đó là ma túy). Thu tại túi quần phía sau bên phải T đang mặc số tiền 12.000 đồng. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong số vật chứng theo quy định.

Tại Kết luận giám định số 2017/KL-KTHS ngày 29/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilon màu trắng, viền màu xanh gửi giám định có khối lượng 0,2309 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine”.

Nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ Lữ Văn T khai nhận: Bản thân T trước khi bị bắt có sử dụng ma túy nên khoảng 17 giờ 30 phút ngày 28/9/2023, khi T đang đi làm ở khu công nghiệp Khai Sơn, thị xã Thuận Thành thì có một nam thanh niên tên V rủ T đi lấy ma túy để sử dụng. T đồng ý và đi đến khu vực trước cửa quán Trà Chanh 1975 thuộc địa phận khu phố Mới, phường Hồ, thị xã Thuận Thành. Tại đây, V bảo T đi ra đoạn đường chỗ không có người rồi đưa cho T 01 gói ma túy được đựng trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng. T biết đó là ma túy liền cầm ở lòng bàn tay phải. Sau khi đưa gói ma túy cho T xong thì V bỏ đi. T cầm gói ma túy đi về phía quán Trà Chanh 1975 thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ vật chứng phạm tội như nêu ở trên.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 119/CT-VKS, ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành truy tố Lữ Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành duy trì công tố tại phiên toà sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, các chứng cứ, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để đưa ra những chứng cứ, lý lẽ buộc tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên tội danh như Cáo trạng đã truy tố và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu huỷ: Khối lượng ma túy còn lại sau giám định; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng long màu vàng. Trả lại bị cáo số tiền 12.000 đồng.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bà Nguyễn Thị C là người bào chữa cho bị cáo T xác định việc điều tra, truy tố và xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên do bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật còn hạn chế do vậy bà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến tính chất, mức độ, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để cho bị cáo hưởng mức án dưới mức thấp nhất nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên đủ căn cứ để kết luận:

Hồi 18 giờ ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại khu vực trước cửa quán Trà Chanh 1975 thuộc địa phận khu phố Mới, phường Hồ, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, Lữ Văn T, hành vi tàng trữ trái phép 0,2309 gam chất ma túy heroine với mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước. Vì vậy phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[2] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

Bị cáo xuất thân từ gia đình lao động nhưng không chịu làm ăn chân chính mà ham chơi đua đòi sử dụng ma túy dẫn đến phạm vào tội nghiêm trọng do vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo. Tuy nhiên tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng miền núi đặc biệt khóa khăn (Theo Quyết định 861/QĐ- TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng chính phủ) nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy khi lượng hình cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự để phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền sung công quỹ Nhà nước tuy nhiên do bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, là người dân tộc thiểu số sống ở xã đặc biệt khó khăn nên cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[3] Đối với người thanh niên mà T khai V là người đã đưa ma túy cho T để sử dụng. Tuy nhiên do T không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của V ở đâu nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ nên không xem xét, xử lý được là phù hợp.

[4] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự để xử lý số vật chứng của vụ án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà hôm nay là có căn cứ. Cụ thể:

Đối với khối lượng ma túy còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng long màu vàng, xét thấy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 12.000 đồng, xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên do bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên căn cứ vào quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 của UBTVQH miễn cho bị cáo toàn bộ số tiền án phí hình sự sơ thẩm [6] Về hành vi tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lữ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Lữ Văn T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/9/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì thư bên trong có chứa mẫu vật còn lại sau giám định; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng long màu vàng.

Trả lại bị cáo số tiền 12.000 đồng.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 18/12/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thuận Thành với Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành)

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Miễn cho bị cáo số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

82
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 125/2023/HS-ST

Số hiệu:125/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuận Thành - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:21/12/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về