Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 121/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ, TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 121/2023/HS-ST NGÀY 08/11/2023 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 08 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 118/2023/TLST-HS ngày 20/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2023/QĐXXST-HS ngày 25/10/2023 đối với bị cáo:

Trương Văn Đ, sinh năm 1988 tại Hà Nam; nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Tiểu khu N, thị trấn K, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Đức H và bà Trần Thị N; có vợ là Dương Thị T, sinh năm 1988 và 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án:

Ngày 29/11/2019, Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam xử phạt 42 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/6/2022; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19/05/2010, Chủ tịch UBND thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam quyết định áp dụng biện pháp đưa đối tượng nghiện ma túy lang thang không nơi cư trú nhất định vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 12 tháng; bị bắt, tạm giữ ngày 03/8/2023, tạm giam từ ngày 09/8/2023 đến nay; có mặt.

- Người làm chứng: Anh Ngô Mạnh H, sinh năm 1983; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 03/8/2023, Trương Văn Đ thuê xe ôm đi từ nhà đến khu vực vườn hoa Nam Cao thuộc tổ 1, phường Quang Trung, thành phố Phủ Lý tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, Đ gặp một người đàn ông không quen biết khoảng 40 tuổi, Đ nói với người này: “Em vật quá, muốn làm tý anh giúp em không?”, hiểu ý Đ hỏi mua ma túy, người đàn ông liền nói: “Ba trăm nghìn một quả”. Đ đồng ý và lấy ra số tiền 300.000đồng đưa cho người đàn ông, người này cầm tiền của Đ rồi bỏ đi khoảng 15 phút sau thì quay lại đưa cho Đ 01 gói giấy bạc màu vàng, Đ mở gói giấy bạc ra kiểm tra thấy bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục, biết đó là ma túy nên Đ gói lại, cất vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi tìm nơi để sử dụng. Khi mới đi được một đoạn Đ bị lực lượng Công an phường Liêm Chính, thành phố Phủ Lý kiểm tra hành chính, phát hiện thấy cất giấu ma túy nên đã lập biên bản bắt giữ quả tang và bàn giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý để giải quyết.

Vật chứng thu giữ của vụ án gồm: 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01.

Tại bản Kết luận giám định số 509/KL-KTHS ngày 08/8/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam đã kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,182gam, loại Heroine”.

Bản Cáo trạng số 124/CT-VKS-PL ngày 18/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố Trương Văn Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên quan điểm không thay đổi, bổ sung về nội dung đã truy tố đối với bị cáo Trương Văn Đ, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự:

- Hình phạt chính: Xử phạt Trương Văn Đ từ 30 tháng đến 36 tháng tù.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Trương Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Trương Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đã thực hiện đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ của vụ án được thẩm tra tại phiên tòa như biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng; kết luận giám định về chất ma túy; lời khai của người làm chứng; lý lịch tư pháp của bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 03/8/2023, tại khu vực tổ 1 phường Quang Trung, thành phố Phủ Lý, Trương Văn Đ đã bị lực lượng Công an phường Liêm Chính, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam phát hiện, bắt giữ quả tang đang cất giấu trái phép 0,182 gam chất ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

4.1. Về nhân thân: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhân thân xấu do đã bị kết án về tội: “Cướp giật tài sản” chưa được xóa án tích; bản thân đã từng bị đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc để cai nghiện ma túy (đã hết thời hạn được coi như chưa bị xử lý vi phạm hành chính).

4.2. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án về tội: “Cướp giật tài sản” chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 và khoản 1 Điều 53 của Bộ luật Hình sự.

4.3. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo; có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt:

5.1.Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và các chất gây nghiện trực tiếp là các hoạt động cất giữ, tàng trữ chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn cho xã hội, làm nảy sinh tệ nạn ma túy và các tệ nạn khác là nguyên nhân phát sinh tội phạm. Bị cáo đã từng bị kết án phạt tù về tội phạm xâm phạm quyền sở hữu, bị đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc nhưng đã không chịu cải tạo, tu dưỡng bản thân, từ bỏ ma túy mà vẫn tiếp tục lao vào con đường nghiện ngập dẫn đến phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo ý thức chấp hành, tuân thủ pháp luật đồng thời nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm.

5.2. Hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người nghiện ma túy, phạm tội không vì mục đích vụ lợi nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền, tịch thu tài sản…) đối với bị cáo.

[6] Đối với người đàn ông khoảng 40 tuổi, gặp ở khu vực vườn hoa Nam Cao, thành phố Phủ Lý theo bị cáo khai là người đã bán ma túy cho bị cáo cất giấu. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã phối hợp với Công an khu vực tiến hành xác minh, làm rõ nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ của người này. Ngoài lời khai của của bị cáo ra thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh, do đó chưa có đủ cơ sở để xem xét, xử lý là có căn cứ.

[7] Về xử lý vật chứng đã thu giữ: Đối với số Heroine hoàn trả sau giám định cùng bao gói là vật thuộc loại Nhà nước quy định cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47, Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 329, 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

1. Tuyên bố bị cáo Trương Văn Đ phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 03/8/2023.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì đã niêm phong mặt trước ghi:“Mẫu vật hoàn trả QT01”, số: 509/KTHS, mặt sau có chữ ký và đóng dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam.

Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 19/10/2023.

3. Án phí: Buộc bị cáo Trương Văn Đ nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

100
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 121/2023/HS-ST

Số hiệu:121/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phủ Lý - Hà Nam
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:08/11/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về