TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - TỈNH THÁI BÌNH
BẢN ÁN 115/2023/HS-ST NGÀY 19/12/2023 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Ngày 19 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 113/2023/TLST- HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Tô Đình D, sinh ngày 02/8/1975.
Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Đình B và bà Trần Thị Th (đều đã chết); vợ là Phạm Thị H và có 01 con; tiền án: không; tiền sự: không. Nhân thân: Bản án số 70/HSST ngày 07/9/1996 của Tòa án nhân dân thị xã Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt bị cáo 02 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm về tội “Cố ý gây thương tích”. Bản án số 72/HSST ngày 18/7/2002 của Tòa án nhân dân thị xã Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 17 ngày 17/9/1995 Công an thị xã Thái Bình xử phạt hành chính bị cáo 200.000đồng về hành vi vận chuyển bình xịt hơi cay; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 29 ngày 17/12/2000 của Công an thị xã Thái Bình xử phạt cảnh cáo bị cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/9/2023 đến ngày 23/9/2023 chuyển tạm giam. Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tiền Hải, được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
- Ông Hà Huy C, sinh năm 1954 (Vắng mặt)
- Ông Phạm Ngọc Th, sinh năm 1961 (Vắng mặt)
Đều cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn T, huyện H, tỉnhThái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 12 giờ 00 phút ngày 17/9/2023, D đi nhờ xe của người khoogn quen biết đến khu vực cầu Tr thuộc địa phận xã L, huyện H tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây D gặp và mua của một người phụ nữ không rõ tên tuổi địa chỉ 300.000 đồng được 03 gói ma túy loại Heroin, bên ngoài được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, bên trong là chất bột màu trắng đục dạng cục. Sau khi mua được ma túy, D cất vào túi áo ngực bên trái phía trước đang mặc rồi đi đến khu vực cánh đồng thuộc tổ dân phố T, thị trấn T tìm nơi sử dụng thì bị Công an huyện Tiền Hải phát hiện, bắt quả tang.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Tô Đình D, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tiền Hải không phát hiện thu giữ gì thêm.
Tại bản Kết luận giám định số 1408/KL-KTHS ngày 21/9/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,1570 gam (không phẩy một nghìn năm trăm bẩy mươi gam). Heroine STT: 09, Danh mục IA, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022.
Tại bản cáo trạng số 116CT-VKSTH ngày 28/11/2023 Viện kiểm sát nhân D huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Tô Đình D về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Tô Đình D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân D huyện Tiền Hải đã truy tố đối với bị cáo.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản cáo trạng số 116 và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Tô Đình D từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/9/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo sau khi hoàn giám định còn lại là 0,1042 gam Heroine được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1408/KL- KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với Kiểm sát viên về bản luận tội.
Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: “Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Bị cáo và người làm chứng không khiếu nại hay có ý kiến gì. Nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Tô Đình D khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy vào chiều ngày 17/9/2023, mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình lập ngày 17/9/2023;
- Biên bản tạm giữ, đồ vật tài liệu và biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ do Công an huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình lập cùng ngày 17/9/2023;
- Bản kết luận số 1408/KL-KTHS ngày 21/9/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình;
- Biên bản ghi lời khai của người làm chứng là ông Hà Huy C và ông Phạm Ngọc Th.
Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 13 giờ 00 phút ngày 17/9/2023, tại đoạn đường cánh đồng thuộc tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H. Công an huyện Tiền Hải phát hiện bắt quả tang Tô Đình D có hành vi tàng trữ trái phép 03 gói Heroin có khối lượng 0,1570 gam với mục đích để sử dụng cho bản thân Hành vi của bị cáo Tô Đình D đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tội phạm thuộc trường hợp nghiêm trọng.
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
1. “ Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) …………………………………………………………………………… c) Heroine, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;
h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;
....................................................................................................................
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
[3]. Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Tô Đình D là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, làm suy thoái nòi giống con người, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương.
[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, hai lần bị kết án về các tội “Cố ý gây thương tích”, “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và hai lần bị xử phạt vi phạm hành chính.
Về tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự : Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về hình phạt:
[5.1]. Về hình phạt chính: Xét thấy, Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức được tác hại của ma túy, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, hành vi của bị cáo xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, làm suy thoái nòi giống con người. Do đó, hành vi của bị cáo cần thiết phải xử phạt bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội do bị cáo gây ra mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đến tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần mức hình phạt tù cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
[5.2]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có việc làm ổn định, bản thân là đối tượng nghiện ma túy nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng của vụ án: Toàn bộ số ma túy thu giữ của bị cáo sau khi hoàn giám định còn lại là 0,1042 gam Heroine. Đây là loại nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy.
[7]. Về nguồn gốc số ma túy thu giữ trong vụ án: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa. Bị cáo khai mua của một người phụ nữ không biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực cầu Tr. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiền Hải không có căn cứ để xử lý đối với người đã bán ma túy cho bị cáo Tô Đình D.
[8]. Về án phí: Bị cáo Tô Đình D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tô Đình D phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tô Đình D 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/9/2023.
3/ Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của Bị cáo Tô Đình D còn lại sau khi hoàn giám định là 0,1042 gam Heroine được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1408/KL- KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
(Vật chứng của vụ án đã được chuyển đến Chi cục thi hành án D sự huyện Tiền Hải theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/11/2023 giữa Công an huyện Tiền Hải và Chi cục Thi hành án D sự huyện Tiền Hải).
4/ Về án phí: Bị cáo Tô Đình D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (19/12/2023).
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 115/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 115/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Tiền Hải - Thái Bình |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 19/12/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về