Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 109/2023/HS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 109/2023/HS-ST NGÀY 24/11/2023 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 24 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Th xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 109/2023/TLST- HS ngày 01 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2023/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1995 tại Th; nơi cư trú: Thôn M, xã Đ1, huyện H, tỉnh Th; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1972 và bà Vũ Thị H, sinh năm 1971; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 09/9/2023 đến ngày 15/9/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ (có mặt tại phiên tòa).

* Người chứng kiến:

- Ông Trần Duy T1, sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn H, xã L, huyện Đ2, tỉnh Th (vắng mặt).

- Ông Nguyễn Kiên C, sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn H, xã L, huyện Đ2, tỉnh Th (vắng mặt)..

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 09/9/2023, tại khu vực trục đường Thôn H, xã L, huyện Đ2, tỉnh Th; Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã L, huyện Đ2 kiểm tra thu giữ tại túi quần bên trái phía trước Nguyễn Văn Đ đang mặc 01 túi nilon nhỏ có nắp cài nhựa viền màu đỏ bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng trong suốt, Đ khai là ma túy loại Methamphetamine, Đ mới mua lúc 11 giờ cùng ngày, mua của một người đàn ông không quen biết, khoảng 40 tuổi, đứng tại khu vực cầu Đình Thượng thuộc xã L, huyện Đ2, với giá 300.000 đồng, mục đích mua về để sử dụng cho bản thân, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an bắt giữ và lập biên bản phạm tội quả tang và niêm phong quản lý vật chứng theo quy định.

Tại bản kết luận giám định số 1366/KL- KTHS ngày 13/9/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Th, kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1717 gam (Không phẩy một nghìn bẩy trăm mười bẩy gam).

- Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố. Bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi và quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng.

- Tại Cơ quan điều tra, người chứng kiến là ông Trần Duy T và ông Nguyễn Kiên C khai: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 09/9/2023, tại khu vực trục đường Thôn H, xã L, huyện Đ2, tỉnh Th; ông T và ông Cđã chứng kiến việc Công an huyện Đ2và Công an xã L, huyện Đ2 khám xét, thu giữ tại túi quần bên trái phía trước Nguyễn Văn Đ đang mặc 01 túi nilon nhỏ có nắp cài nhựa viền màu đỏ bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng trong suốt, Đ khai là ma túy loại Methamphetamine, Đ mới mua của một người đàn ông không quen biết, khoảng 40 tuổi, đứng tại khu vực cầu Đình Thượng thuộc xã L, huyện Đ2, với giá 300.000 đồng, mục đích mua về để sử dụng cho bản thân.

Bản cáo trạng số 106/CT-VKSĐH ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Ngoài ra còn đề nghị xử lý về vật chứng và án phí.

Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Đ lập hồi 12 giờ 35 phút ngày 09/9/2023; biên bản niêm phong vật chứng; bản ảnh vật chứng; bản kết luận giám định số 1366/KL-KTHS ngày 13/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Th; lời khai của người chứng kiến là ông Trần Duy T và ông Nguyễn Kiên C; cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn Đ là người đã thành niên, có nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu qu ả của hành vi do mình thực hiện, nhưng Đ vẫn cố ý tàng trữ trái phép trên người 0,1717 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Nguyễn Văn Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

… c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR- 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

… 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, là nguyên nhân làm phát sinh và gia tăng các loại tội phạm, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Hậu quả mà bị cáo gây ra phải chịu sự trừng trị của pháp luật, đây là bài học cho bị cáo và những người mắc nghiện ma túy, phạm các tội về ma túy.

[4] Khi quyết định hình phạt, xét thấy:

- Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

- Trong quá trình tố tụng bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử quyết định mức án tương xứng để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện và để giáo dục, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân; khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ không lớn; bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án: Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về nguồn gốc ma tuý: Quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được người bán ma túy cho bị cáo là ai, do đó không có căn cứ để điều tra, xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Văn Đ 01 năm 03 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 09/9/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Methamphetamine thu giữ của Nguyễn Văn Đ được hoàn lại sau giám định, niêm phong trong phong bì số 1366/KL- KTHS ngày 13/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Th.

(Vật chứng trên đã được bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ ngày 01/11/2023).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV;

Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

80
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 109/2023/HS-ST

Số hiệu:109/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đông Hưng - Thái Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:24/11/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về