Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 107/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 107/2023/HS-ST NGÀY 18/12/2023 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 18 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh S xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 90/2023/TLST-HS, ngày 13/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2023/QĐXXST - HS, ngày 13/11/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2023/HSST- QĐ, ngày 23/11/2023 và Thông báo mở lại phiên tòa số 1747/TB-TA, ngày 24 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Đinh Công D (tên gọi khác: Không), sinh ngày 06 tháng 8 năm 1985 tại tỉnh Hòa Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm K, xã P, huyện T, tỉnh Hòa Bình; nơi ở trọ trước khi bị bắt: Tổ 1, khối A, thị trấn C, huyện C, tỉnh S; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Công M và bà Đinh Thị Ư; có vợ là Bùi Thị C (đã ly hôn năm 2021) và 02 con; tiền án: Có 02 tiền án cụ thể: Bản án số 08/2021/HS-ST ngày 16/4/2021 của TAND huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình xử phạt bị cáo 10 (mười) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Bản án số 20/2021/HS-ST ngày 11/6/2021 của TAND huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xử phạt bị cáo 20 (hai mươi) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 16/2017/HS-ST ngày 19/01/2017 của TAND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng về tội Trộm cắp tài sản, đã được xóa án tích; bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh S từ ngày 21/6/2023 đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 11 giờ 15 phút ngày 21/06/2023 tổ công tác Công an huyện C, tỉnh S làm nhiệm vụ tại khu L, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn phát hiện bắt quả tang đối tượng Đinh Công D, sinh năm 1985, nơi ĐKHKTT: Xóm K, xã P, huyện T, tỉnh Hòa Bình; chỗ ở trọ: Tổ A, khối A, thị trấn C, huyện C, tỉnh S về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng phát hiện, thu giữ: 01 (một) túi nilon trong suốt đựng các cục chất tinh thể màu trắng nghi là chất ma tuý; 01 (một) túi nilon trong suốt đựng 03 (ba) viên nén màu xanh và một túi nilon trong suốt đựng các cục chất tinh thể màu trắng.

Bản Kết luận giám định số 706/KL-KTHS ngày 24/06/2023 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Mẫu 01: Các cục chất tinh thể màu trắng gửi giám định là chất ma tuý Ketamine, có khối lượng 2,019 gam (đã trừ bì). Mẫu 02: 03 (ba) viên nén màu xanh gửi giám định là chất ma tuý MDMA, có khối lượng 0,793 gam (đã trừ bì); các cục chất tinh thể màu trắng gửi giám định là chất ma tuý Ketamine, có khối lượng 0,141 gam (đã trừ bì).

Tại Cơ quan điều tra, Đinh Công D khai nhận: Bản thân là người nghiện chất ma tuý tổng hợp. Khi có nhu cầu sử dụng ma tuý Đinh Công D thường ra khu vực chợ Đ, huyện C mua ma tuý. Khoảng 10 giờ 30 ngày 21/6/2023 Đinh Công D đi bộ đến khu vực chợ Đ, thuộc thị trấn Đ, huyện C, tỉnh S gặp một người phụ nữ không biết tên tuổi địa chỉ để mua 2.000.000 đồng tiền ma tuý Ketamine và 600.000 đồng tiền ma tuý kẹo thì được người phụ nữ này đưa cho 01 túi ma tuý Keamine to và 01 túi nilon bên trong có 03 viên ma tuý kẹo, 01 túi ma tuý ketamin nhỏ. Mua xong Đinh Công D cất giấu số ma tuý vừa mua được vào trong túi quần rồi đi tìm chỗ để sử dụng, khi D đi đến khu L, thị trấn Đ, huyện C thì bị Tổ công tác Công an huyện C kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ số ma tuý nêu trên.

Tại Bản cáo trạng số 84/CT-VKS-CL ngày 13/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh S truy tố bị cáo Đinh Công D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận do nghiện ma túy nên bị cáo thường xuyên ra khu vực chợ Đ nhờ một người phụ nữ không biết tên, tuổi, địa chỉ mua ma túy về sử dụng. Khoảng 10 giờ 30 ngày 21/6/2023 bị cáo đi bộ đến khu vực đi bộ đến khu vực chợ Đ, thuộc thị trấn Đ, huyện C, tỉnh S 2.000.000 đồng tiền ma tuý Ketamine và 600.000 đồng tiền ma tuý kẹo một người phụ nữ không biết tên tuổi địa chỉ nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang, bị cáo biết đó là hành vi vi phạm pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh S vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đinh Công D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50 của Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Đinh Công D từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù giam. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói.

Về án phí: Bị cáo Đinh Công D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận bị cáo cho rằng bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn nên bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự cho bị cáo. Khi nói lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo phù hợp với các chứng cứ khác và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Tại Bản án số 16/2017/HS-ST, ngày 19/01/2017 của TAND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng về tội Trộm cắp tài sản ghi tên bị cáo là Đinh Văn D1. Tại Bản án số 08/2021/HS-ST ngày 16/4/2021 của TAND huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình xử phạt bị cáo 10 (mười) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và Bản án số 20/2021/HS-ST ngày 11/6/2021 của TAND huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xử phạt bị cáo 20 (hai mươi) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản lại ghi tên bị cáo là Đinh Công D; tên bố của bị cáo có bản án ghi Đinh Công M1, có bản án ghi Đinh Công M; năm sinh của bị cáo có bản án ghi sinh năm 1985, có bản án ghi sinh năm 1987. Do khác nhau về tên đệm và tên chính của bị cáo và tên bố của bị cáo, Toà án đã ra yêu cầu Thông báo bổ sung tài liệu, chứng cứ xác định chính xác tên, ngày tháng năm sinh của bị cáo và tên bố của bị cáo. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã thu thập được Kết luận giám định số 34/KLGĐ-CAT-PC09, ngày 01/02/2023 của Phòng K Công an tỉnh H giám định dấu vết đường vân đối với D2 chỉ bản số 126 mang tên Đinh Công D (sinh năm 1987; trú tại: Xóm K, Phú C1, T lập ngày 08/12/2020 tại Công an huyện T và D2 chỉ bản số 355, lập ngày 10/11/2016 mang tên Đinh Văn D1, sinh năm 1985; trú tại: Xóm B, Phú C1, T, Hòa Bình có phải là một người hay không?. Kết quả xác định được: D2 chỉ bản số 126 mang tên Đinh Công D và D2 chỉ bản số 355 mang tên Đinh Văn D1 là của một người. Tại phiên toà bị cáo khẳng định lại thông tin cá nhân: Bị cáo chỉ có 01 tên duy nhất là Đinh Công D, không có tên nào khác là Đinh Văn D1 mà do Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh ghi sai. Ngày tháng năm sinh của bị cáo chính xác là ngày 06/8/1985 không phải ngày 06/8/1987. Bố đẻ của bị cáo tên chính xác là Đinh Công M không phải là Đinh Công M1 như các bản trước đã ghi. Lời khai tại phiên toà của bị cáo phù hợp với kết quả xác minh của Cơ quan điều tra Công an huyện C, tỉnh S.

[3] Tại phiên tòa bị cáo Đinh Công D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đinh Công D đã có hành vi tàng trữ trái phép 2,160 gam chất ma túy Ketamin và 0,793 gam chất ma tuý MDMA nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo Đinh Công D đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh S truy tố đối với bị cáo Đinh Công D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Nhà nước Việt Nam đã nghiêm cấm việc sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo đã trưởng thành, có đủ năng lực hành vi và nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do nghiện ma túy nên bị cáo cố ý phạm tội. Hành vi của bị cáo gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an trên địa bàn.

Để có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo như sau:

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bản án số 08/2021/HS-ST ngày 16/4/2021 của Toà án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hoà Bình xử phạt Đinh Công D 10 (mười) tháng tù giam về hành vi Trộm cắp tài sản. Bị cáo chưa chấp hành xong khoản bồi thường cho chị Đinh Thị D3 1.300.000 đồng; khoản truy thu sung quỹ nhà nước số tiền 750.000 đồng; án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng; Bản án số 20/2021/HS-ST ngày 11/6/2021 của Toà án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình xử phạt Đinh Công D 20 (hai mươi) tháng tù giam về hành vi Trộm cắp tài sản, bị cáo đã chấp hành xong khoản án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Tổng hợp hình phạt tại 02 Bản án, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 30 tháng tù giam. Ngày 06/6/2023, bị cáo mới chấp hành xong án phạt tù của hai bản án trên. Ngày 21/6/2023, bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn nên bị cáo được áp dụng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

[7] Về nhân thân: Bị cáo đã 03 lần bị Toà án xét xử trong đó có 02 tiền án chưa được xóa án tích và Bản án số 16/2017/HS-ST ngày 19/01/2017 của TAND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh mặc dù đã được xóa án tích nhưng xác định bị cáo là người có nhân thân xấu.

[8] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, có như vậy mới đảm bảo tính nghiêm minh, răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung tội phạm cho xã hội.

[9] Về hình phạt bổ sung: Tại biên bản xác minh ngày 31/7/2023 thể hiện: Bị cáo không có việc làm ổn định, vừa chấp hành xong án phạt tù về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo thường xuyên vắng mặt tại địa phương, bản thân và gia đình không có tài sản gì có giá trị. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[10] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong dán kín ghi chữ “Quả tang Đinh Công D”, có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T, trợ lý giám định và hình dấu của phòng K tại phần giáp lai mới. Bên trong đựng tổng cộng 1,741 gam Ketamine; 01 túi ni-lông đựng 0,433 gam MDMA.

[11] Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho Đinh Công D, do bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể, cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ. Do đó, Hội đồng xét xử không có đủ căn cứ để xử lý trong vụ án này.

[12] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; bị cáo có đơn đề nghị miễn án phí nên Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[14] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Công D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt:

- Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Đinh Công D 03 (ba) năm tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 21/6/2023.

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đinh Công D. 3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong dán kín ghi chữ “Quả tang Đinh Công D”, có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T, trợ lý giám định và hình dấu của phòng K tại phần giáp lai mới. Bên trong đựng tổng cộng 1,741 gam Ketamine; 01 túi ni-lông đựng 0,433 gam MDMA.

(Cụ thể, chi tiết vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện C, tỉnh S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Lạng sơn, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/10/2023).

4. Về án phí: Bị cáo Đinh Công D được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

112
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 107/2023/HS-ST

Số hiệu:107/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cao Lộc - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:18/12/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về