Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 101/2023/HS-PT

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 101/2023/HS-PT NGÀY 21/05/2024 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 21/5/2024, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử trực tuyến tại 02 điểm cầu (Điểm cầu trung tâm: Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng; Điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ Công an huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi) để xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số số 04/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Nhan Đức H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 98/2023/HS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo có kháng cáo:

Nhan Đức H (tên gọi khác: không có), sinh ngày 25/8/1991 tại thành phố Đà Nẵng; nơi cư trú: Thôn Q, xã P, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nhan Đức L (còn sống) và bà Dương Thị Q (đã chết); Tiền sự: Chưa Tiền án:

- Ngày 05/3/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam xử phạt 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 09/2009/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/4/2010.

- Ngày 30/12/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xử phạt 04 năm 06 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 năm tù về tội “Trốn khỏi nơi giam” theo Bản án số 45/2010/HSST. Tổng hợp hình phạt là 05 năm 06 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù gày 12/5/2015.

- Ngày 22/3/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 05/2016/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/7/2019.

- Ngày 06/7/2020 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 140/2020/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/11/2021.

Nhân thân:

- Ngày 24/10/2003 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đưa vào Trường giáo dưỡng số 3 trong thời hạ 24 tháng tù về hành vi Trộm cắp tài sản theo Quyết định số 2909/QĐ-UB.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 13/3/2023 trong một vụ án khác. Có mặt tại phiên tòa.

* Tham gia tại điểm cầu trung tâm gồm có: Hội đồng xét xử, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng và Thư ký phiên tòa.

* Tham gia tại điểm cầu thành phần gồm có:

- Bị cáo: Nhan Đức H - Cán bộ, chiến sỹ của Nhà tạm giữ Công an huyện Tư Nghĩa, Quảng Ngãi:

+ Ông Lê Văn N; Chức vụ: Cán bộ

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 05/3/2023, Nhan Đức H hẹn gặp đối tượng Vũ (không rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực trước cổng Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng để mua 1.000.000 đồng ma túy gồm 01 viên thuốc lắc và 01 gói ketamine rồi mang về căn hộ số 4x đường Lê Văn Hưu, phường Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng cất giấu nhằm mục đích sử dụng. Từ ngày 05/3/2023 đến ngày 10/3/2023, H nhiều lần trích số ma túy nói trên để sử dụng một mình trong phòng. Đến 20 giờ ngày 10/3/2023, H tiếp tục lấy ma túy để sử dụng, sau khi sử dụng xong thì H đón xe khách vào Quảng Ngãi lúc 05 giờ ngày 11/3/2023. Khi đến huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi thì H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Bình Sơn bắt khẩn cấp về tội “Trộm cắp tài sản”.

Đến 19 giờ cùng ngày, Công an phường Mỹ An, quận Ngũ Hành sơn, thành phố Đà Nẵng phối hợp với Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an quận Ngũ Hành Sơn tiến hành kiểm tra hành chính phòng 4.1, căn hộ số 4x đường Lê Văn Hưu, phường Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện, thu giữ của Nhan Đức H 0,046 gam ma túy loại Ketamine và 0,279 gam ma túy loại MDMA cùng một số vật khác liên quan đến vụ án.

Với nội dung trên, Bản án sơ thẩm số 98/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

Căn cứ: điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nhan Đức H 05 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam 13/3/2023.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 01/12/2023, bị cáo Nhan Đức H có đơn kháng cáo với nội dung: Án sơ thẩm xử nặng, xin cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nhan Đức H theo đúng thủ tục và trong thời hạn kháng cáo nên đảm bảo hợp lệ.

Về nội dung: Xét về nội dung đơn kháng cáo của bị cáo thì thấy Bản án sơ thẩm số 98/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật, mức án mà cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới, nên đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ Luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

- Bị cáo Nhan Đức H thừa nhận hành vi phạm tội, tuy nhiên bị cáo cho rằng cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết “tái phạm nguy hiểm” là không đúng, xử phạt bị cáo 05 năm tù là quá nặng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nhan Đức H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên HĐXX có đủ cơ sở xác định: Khoảng 19 giờ ngày 11/3/2023, tại phòng 4.1, căn hộ số 4x Lê Văn Hưu, phường Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, Công an quận Ngũ Hành Sơn kiểm tra hành chính phát hiện Nhan Đức H tàng trữ trái phép 0,046 gam ma túy loại Ketamine và 0,279 gam ma túy loại MDMA nhằm mục đích để sử dụng.

Do đó, Bản án sơ thẩm số 98/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội [2] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Nhan Đức H thì thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Nhân thân bị cáo xấu, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định pháp luật, xử phạt bị cáo 05 năm tù là không nặng. Đối với ý kiến của bị cáo cho rằng cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết “Tái phạm nguy hiểm” để xử phạt bị cáo là không đúng, Hội đồng xét xử thấy hoàn toàn không có căn cứ, do đó không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nhan Đức H, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nhan Đức H. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 98/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.

2. Căn cứ: điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;

Xử phạt: Nhan Đức H 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyế 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

110
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 101/2023/HS-PT

Số hiệu:101/2023/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đà Nẵng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:21/05/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về