TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA
BẢN ÁN 09/2024/HSST NGÀY 04/12/2024 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ
Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân huyện TC, tỉnh Sơn a xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Lò Văn H, tên gọi khác: Không; sinh năm 1992 tại huyện TC, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản N, xã CL, huyện TC, tỉnh Sơn a; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông ò Văn Thịnh (đã chết) và bà ò Thị Xuân, sinh năm 1970; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam ng y 15 tháng 8 năm 2024. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án v diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 02 giờ 30 phút ngày 15/8/2024, Tổ công tác Công an thị trấn TC, huyện TC, tỉnh Sơn a l m nhiệm vụ tại khu vực tiểu khu 03, thị trấn TC, huyện TC, phát hiện bắt quả tang ò Văn H có h nh vi cất giữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói nilon màu trắng bên trong có chứa có chứa chất bột cục m u trắng nghi là Heroine (theo ò Văn H khai là Heroine).
Hồi 09 giờ 00 phút ngày 15/8/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu đã tiến h nh bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng v lấy m u giám định, kết quả: Số chất bột cục m u trắng nghi l Heroine bên trong gói nilon màu trắng có khối lượng 0,19 gam. Trích to n bộ 0,19 gam, ký hiệu H1 gửi giám định.
Kết luận giám định số: 1600/KL-KTHS ngày 16/8/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn a kết luận: M u gửi giám định ký hiệu H1 là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học l Diacetylmorphine; khối lượng của m u gửi giám định l 0,19 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,19 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học l Diacetylmorphine. Ho n lại đối tượng giám định: M u gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Quá trình điều tra v tại phiên tòa bị cáo ò Văn H đã khai nhận to n bộ h nh vi phạm tội như sau:
Khoảng 02 giờ 00 phút, ngày 15/8/2024, ò Văn H đi bộ một mình từ nh ở bản N ĩnh, xã CL, huyện TC đến khu vực tiểu khu 03, thị trấn TC, huyện TC, tỉnh Sơn a với mục đích đi tìm mua ma túy về để sử dụng. Khi Hồng đi đến khu vực tiểu khu 03, thị trấn TC, huyện TC, Hồng gặp v h i mua được của một người đ n ông dân tộc thái (Hồng không biết tên, địa chỉ cụ thể ở đâu) một gói ma túy gói b ng nilon m u trắng bên trong có chứa Heroine với giá 150.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Hồng cất giấu gói ma túy vừa mua được ở túi quần bên phải đang mặc, rồi đi bộ về nh . Khi Hồng đi được khoảng 200 mét thuộc khu vực tiểu khu 03, thị trấn TC, huyện TC thì bị tổ công tác Công an thị trấn TC, huyện Thuận Châu phát hiện, bắt quả tang và thu giữ c ng vật chứng.
Tại bản Cáo trạng số: 176/CT- VKSTC ngày 21 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TC đã truy tố bị cáo ò Văn H về tội T ng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên to hôm nay, bị cáo ò Văn H đã khai nhận to n bộ h nh vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện TC đã truy tố v thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội T ng trữ trái phép chất ma túy l đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC giữ quyền công tố tại phiên to trình b y lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ h nh vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo ò Văn H phạm tội T ng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo ò Văn H từ 18 (mười tám) tháng tù đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ uật Hình sự;
điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu trắng; 01 v phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
Buộc bị cáo ò Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo ò Văn H thừa nhận h nh vi phạm tội v không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TC, tỉnh Sơn a, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra v tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về h nh vi, quyết định của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng.
[2] Ngày 15/8/2024 bị cáo ò Văn H đã có h nh vi cất giữ trái phép trái phép 0,19 gam chất ma tuý, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học l Diacetylmorphine trong người với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực tiểu khu 03, thị trấn TC, huyện TC, tỉnh Sơn a.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì l m thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo ho n to n nhất trí với h nh vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
ời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra ph hợp với kết quả điều tra, ph hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ng y 15/8/2024; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy m u gửi giám định v niêm phong lại; Biên bản mở niêm phong v giao nhận đối tượng giám định; Kết luận giám định số: 1600/KL-KTHS ngày 16/8/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn a; lời khai của người chứng kiến.
Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận h nh vi cất giữ trái phép 0,19 gam chất ma tuý, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học l Diacetylmorphine trong người với mục đích để sử dụng của bị cáo ò Văn H đã phạm vào tội T ng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] H nh vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng v nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nh nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc nh m răn đe giáo dục đối với bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra v tại phiên tòa bị cáo th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
[4] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo ò Văn H không có t i sản, không có đủ điều kiện v khả năng thi h nh hình phạt bổ sung. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo ò Văn H khai mua của một người đ n ông dân tộc thái không biết họ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực tiểu khu 03, thị trấn TC, huyện TC, tỉnh Sơn a v o ng y 15/8/2024. Ngo i lời khai của bị cáo không còn chứng cứ n o khác chứng minh. Do đó, buộc bị cáo Lò Văn H phải chịu trách nhiệm về số ma túy bị thu giữ.
[6] Vật chứng vụ án: Đối với 01 mảnh nilon m u trắng, 01 v phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu l công cụ phương tiện bị cáo d ng v o việc phạm tội, vật không có giá trị, không sử dụng được cần tịch thu tiêu hủy căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ uật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ng y 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo ò Văn H phải chịu to n bộ án phí hình sự sơ thẩm.Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh và hình phạt
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo ò Văn H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo ò Văn H 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hình hình phạt tính từ ngày 15/8/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ uật Hình sự;
điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong có viền màu xanh đ , bên trong có: 01 mảnh nilon màu trắng+ 01 v phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu (mô tả chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an và cơ quan Thi h nh án dân sự).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ng y 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo ò Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo ò Văn H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ng y, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý số 09/2024/HSST
| Số hiệu: | 09/2024/HSST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Thuận Châu - Sơn La |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 04/12/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về