Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 09/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 09/2024/HS-ST NGÀY 06/03/2024 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 06 tháng 3 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN M, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh ngày 10 tháng 4 năm 1997; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm T, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Công giáo; Con ông: Nguyễn Văn C, sinh năm 1963; Con bà: Nguyễn Thị Y, sinh năm 1965; Gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con út; Chưa có vợ con.

Tiền án: 02 + Tại bản án số 121/2017/HSST ngày 24/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/01/2019, chấp hành xong án phí ngày 06/03/2018.

+ Tại bản án số 13/2021/HSST ngày 19/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, TP Hà Nội xử phạt Nguyễn Văn M 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2023, chấp hành xong án phí ngày 26/11/2021.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0082025/QĐ - XPHC ngày 23/3/2017 của Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/10/2023 đến ngày 24/10/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P; Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1991; Vắng mặt.

Trú tại: Xóm T, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

- Người chứng kiến: Ông Đặng Văn T, sinh năm 1973; Vắng mặt.

Trú tại: TDP Đ, phường H, TP P, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 16/10/2023, tổ công tác Công an huyện P phối hợp cùng Công an xã Đ đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực xóm T, xã Đ, huyện P thì phát hiện, bắt quả tang đối tượng Nguyễn Văn M (sinh năm 1997, trú tại xóm T, xã N, huyện P) biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Quá trình kiểm tra, M đã tự giác giao nộp 01 gói giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng, theo như M khai nhận là H do M mua về để phục vụ cho nhu cầu bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn M, thu giữ niêm phong vật chứng theo quy định.

Cùng ngày tại Phòng K Công an tỉnh T mở niêm phong cân xác định số chất bột màu trắng trong gói giấy màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn M có khối lượng 0,145 gam. Lấy toàn bộ 0,145 gam chất bột màu trắng niêm phong trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định tại Phòng K Công an tỉnh T.

Tại bản Kết luận giám định số 1220/KL-KTHS ngày 24/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì thư niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,145 gam.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Mkhai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 16/10/2023, Nguyễn Văn M điều khiển xe mô tô nhăn hiệu Honda BKS 98H3- 51xx trở Nguyễn Văn D (là cháu họ của M) từ nhà của M ở xóm T, Nhã L đến khu Công nghiệp Đ, huyện P. Khi đi M khoác theo túi xách màu đen, bên trong có đựng 01 ví da màu nâu bên trong có dấu 01 gói Heroine được bọc bên ngoài bằng giấy màu trắng và không cho D biết việc M cất giấu ma túy trong túi xách. Khi cả hai đi đến khu vực xóm T, xã Đ, huyện P thì M dừng xe lại để D đi vệ sinh, lúc này M có treo túi xách lên phía trước xe máy thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, M khai nhận do M mua của một người đàn ông tên Vũ M1 tại thành phố T (M không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người này). Mục đích M mua ma túy đề phục vụ cho nhu cầu bản thân, không để bán nhằm mục đích kiếm lời. D (người đi theo M) không biết việc M cất dấu ma túy.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong chứa H (mẫu hoàn lại sau giám định), 01 bì niêm phong ký hiệu M1 bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu vàng ; 01 túi xách màu đen; 01 ví da đều đã qua sử dụng hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình.

Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKSPB ngày 19/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố Nguyễn Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 của BLHS.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Bản thân là người nghiện ma túy. Để có ma túy sử dụng, bị cáo đã mua ma túy của một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể tại thành phố T với giá 100.000đ. Việc bị cáo cất giấu tàng trữ ma túy ngày 16/10/2023 để sử dụng cho bản thân, không mục đích mua bán kiếm lời, bị cáo xác định Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố bị cáo là đúng người đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 06 đến 07 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy bì niêm phong ký hiệu A1; tịch thu tiêu hủy 01 túi xách màu đen, 01 ví da màu nâu (đều đã qua sử dụng) Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu vàng nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14 buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện VKS. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn M thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ đề xác định: Hồi 16 giờ 00 phút, ngày 16/10/2023, tại khu vực xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, bị cáo Nguyễn Văn M đã có hành vi tàng trữ 0,145 gam ma túy loại heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang.

Bản thân bị cáo M có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích. Lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, là tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại Điều 249 BLHS quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

2. Phạm tội trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

a....

....

o, Tái phạm nguy hiểm” Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Bị cáo biết việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp. Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 của BLHS do tình tiết “tái phạm nguy hiểm” là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử và bị xử phạt hành chính nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, lại tiếp tục phạm tội, cho thấy ý thức chấp hành pháp luật kém, coi thường pháp luật của bị cáo.

[4]. Về hình phạt: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo xuất thân từ thành phần lao động nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện. Chỉ vì nghiện ma túy nên bị cáo liên tiếp phạm tội, do vậy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc với bị cáo, áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, ngăn ngừa tội phạm nói chung và các tội phạm về ma túy nói riêng. Xét thấy mức án đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đề nghị khi luận tội là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản gì để đảm bảo thi hành án do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

[5] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có chứa 0,107 gam ma túy còn lại sau giám định, 01 túi xách màu đen đã qua sử dụng, 01 ví da màu nâu đã qua sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu vàng, máy đã qua sử dụng không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, được trả lại cho bị cáo tuy nhiên tạm giữ để đảm bảo thi hành khoản tiền án phí.

[6] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[7] Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma túy bị cáo khai mua của 01 người đàn ông bị cáo chỉ biết tên Vũ M1 tại khu vực thành phố T. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.

Đối với 01 chiếc xe mô mô nhăn hiệu Honda, BKS 98H3 -51xx, quá trình điều tra xác định thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị Y. Bà Y không biết M sử dụng xe vào việc phạm tội do đó Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho bà Nguyễn Thị Y quản lý, sử dụng là phù hợp.

Đối với Nguyễn Văn D, là người đi cùng xe với bị cáo khi bị phát hiện bắt quả tang. Quá trình điều tra xác định D không biết việc bị cáo tàng trữ ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với D là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm o khoản 2 Điều 249; điềm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS;

1. Xử phạt: Nguyễn Văn M 06 (S) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 16/10/2023.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 329 của BLTTHS: Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS;

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu A1 (bên trong có chứa 0,107 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1; 01 túi xách màu đen đã qua sử dụng; 01 ví da màu nâu đã qua sử dụng.

Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu vàng, máy đã qua sử dụng tuy nhiên được tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/02/2023 giữa Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình) 3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000 đồng án phí HSST sung ngân sách nhà nước.

Án xét xử sơ thẩm công khai. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

111
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 09/2024/HS-ST

Số hiệu:09/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phú Bình - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:06/03/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về