TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC
BẢN ÁN 08/2024/HS-ST NGÀY 30/01/2024 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Ngày 30 tháng 01 năm 2024 tại hội trường Uỷ ban nhân dân xã B, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn D, sinh ngày 23/7/1995; nơi sinh và cư trú: Thôn T, xã T, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1972 và bà Trần Thị T, sinh năm 1976; vợ, con chưa có; tiền sự: Không.
Tiền án: 01; Tại bản án số 92/2021/HS-ST ngày 12/7/2021, Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/01/2023 (Chưa được xóa án tích).
Nhân thân: 02; + Tại Quyết định số 126/QĐ-XPVPHC ngày 20/02/2019 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 7.500.000 đồng về hành vi tàng trữ hàng cấm pháo nổ, ngày 01/3/2019 D nộp phạt xong, đã được xóa tiền sự.
+ Tại Quyết định số 233/QĐ-XPVPHC ngày 10/01/2020, Công an huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 17/01/2020, D nộp phạt xong, đã được xóa tiền sự.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/10/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Kim Q, sinh năm 1978 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Người chứng kiến: Ông Lại Đức H, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 29/10/2023, Nguyễn Văn D đi bộ từ nhà ra đường sau đó đi nhờ xe của người đi đường đến khu vực cầu H - Y thuộc xã H, huyện Lập Thạch tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày D xuống xe đi bộ đến đầu cầu gặp và mua của một người đàn ông không biết rõ tên tuổi địa chỉ mua 01 gói ma túy với giá 400.000 đồng. Sau khi mua được ma túy D cất vào túi quần bên trái phía trước rồi đi bộ ra đường Quốc lộ 2C và đi nhờ xe của người đi đường để tìm nơi sử dụng. Đến 14 giờ cùng ngày khi đến khu vực gần nhà nghỉ S thuộc Thôn Đ, xã H, huyện Lập Thạch, D xuống xe đi bộ thì bị Công an huyện Lập Thạch phát hiện bắt giữ.
Vật chứng thu giữ: Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của D đang mặc 01 túi ni lon màu trắng bên trong có 02 viên nén màu hồng và các hạt tinh thể dạng đá màu trắng nghi là ma túy; (vật chứng được niêm phong ký hiệu A1). D khai là gói ma túy vừa mua được để sử dụng cho bản thân.
Tại kết luận giám định số 2964/KLGĐ ngày 02/11/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:
1, 02 (hai) viên nén màu hồng có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,2074g (Không phảy hai không bảy bốn gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine.
“2. Các hạt tinh thể dạng đá màu trắng có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,3675g (Không phảy ba sáu bảy năm gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine”.
Về nguồn gốc ma túy D khai mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi địa chỉ ở khu vực đầu cầu mới H - Y thuộc xã H, huyện Lập Thạch do D không biết rõ tên tuổi địa chỉ của người bán ma túy nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý.
Tại Cáo trạng số 09/CT-VKSLT ngày 16/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch truy tố Nguyễn Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, v khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 21 tháng đến 24 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2023; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định cùng bao gói niêm phong “MẪU TRẢ” A1=0,4323g.
Tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lập Thạch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 14 giờ 30 ngày 29/10/2023, tại khu vực cổng nhà nghỉ S, thuộc Thôn Đ, xã H, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Văn D có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy theo kết luận giám định loại Methamphetamine có khối lượng 0,5749g mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi cất giữ chất ma túy để sử dụng cho bản thân của Nguyễn Văn D đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng của vụ án, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc; phù hợp lời khai của người làm chứng, người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
… c,.. Methamphetamine… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước và xâm phạm trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Như chúng ta đã biết ma tuý đã gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Trong khi cả xã hội đang đấu tranh để đẩy lùi tệ nạn ma túy ra khỏi đời sống thì bị cáo lại làm cho tệ nạn ma túy ngày càng gia tăng. Bị cáo có đầy đủ nhận thức về tác hại của ma túy cho bản thân và xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do vậy cần phải có hình phạt thật nghiêm khắc mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét nhân thân bị cáo Nguyễn Văn D là người có sức khoẻ, phát triển bình thường về thể chất và tinh thần nhưng không chịu làm ăn chân chính, ăn chơi đua đòi nên nghiện ma túy. Năm 2021 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo chưa được xóa án tích. Năm 2019 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Tam Đảo xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ pháo nổ, năm 2020 Công an huyện Tam Đảo xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân nay lại tiếp tục phạm tội. Lẽ ra phải phạt bị cáo mức án cao xong xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự trong quân đội được Tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam tặng bằng khen, và được Hiệu trưởng trường quân sự - Quân đoàn 2 tặng giấy khen đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Vì vậy Hội đồng xét xử chỉ xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo còn nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, có như vậy mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[3] Về hình phạt bổ sung: “Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”. Bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định cùng bao gói niêm phong “MẪU TRẢ” A1=0,4323g là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho D, do D không biết rõ tên tuổi địa chỉ người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, v khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn D 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29/10/2023.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định cùng bao gói niêm phong “MẪU TRẢ” A1= 0,4323g (vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 26 tháng 01 năm 2024 giữa Công an huyện Lập Thạch và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án.
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 08/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 08/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Lập Thạch - Vĩnh Phúc |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 30/01/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về