Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 08/2024/HS-PT

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

BẢN ÁN 08/2024/HS-PT NGÀY 05/02/2024 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 05 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2024/HS-PT ngày 10 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo Trần Văn T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2023/HS-ST ngày 08 tháng 12 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trần Văn T, sinh ngày 12 tháng 6 năm 1981; Nơi cư trú: Thôn K, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Văn P (đã chết) và bà Bùi Thị Đ, sinh năm 1948; bị cáo có vợ tên Đỗ Thị H, sinh năm 1979 (đã ly hôn) và có 02 con lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 10/4/2001, bị Công an huyện P, tỉnh Hưng Yên, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 09/6/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Phù Cử, tỉnh Hưng Yên, xử phạt sáu tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Ngày 17/6/2010 bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại X, huyện Â. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/8/2023 hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phạm Thị T1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 07 giờ 15 phút ngày 21/8/2023 tại khu vực trước cửa chung cư T, đường T, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Tổ công tác Công an phường A phối hợp với Công an phường H, thành phố H tiến hành kiểm tra, bắt quả tang Trần Văn T, sinh năm 1981, trú tại: Đ, K, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói nhỏ màu trắng, kiểm tra bên trong có chứa chất dạng cục và bột màu trắng, tại thời điểm phát hiện T khai nhận: T là người nghiện ma túy, gói nhỏ màu trắng bên trong có dạng cục và bột là ma túy, loại H1, T cất giấu để sử dụng. Tổ công tác sau đó tiến hành lập biên bản, thu giữ, niêm phong đồ vật và đưa T về trụ sở Công an để làm việc.

Quá trình điều tra Trần Văn T khai nhận: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 21/8/2023 T đi một mình từ nhà ở đội 6, K, phường L, thành phố H đến phường H, thành phố H mục đích là để mua ma túy để sử dụng, khi đi đến khu vực trước cửa chung cư T giáp với đường T, phường H thì T gặp 01 người đàn ông dáng vẻ giống người nghiện ma túy, T lại gần hỏi chuyện và đặt vấn đề mua ma túy thì người này đồng ý, T lấy 200.000 đồng đưa cho người đàn ông này, người này cầm tiền và đưa lại cho T 01 gói giấy nhỏ màu trắng. T kiểm tra thấy bên trong có chất rắn màu trắng đục dạng cục, bột do là người nghiện ma túy nên T tự xác định được đây là ma túy (Heroine), sau đó T gói ma túy lại cầm trong lòng bàn tay trái đi tìm nơi vắng người để sử dụng. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T, sau khi bán xong người đó đi đâu T không rõ. T đi bộ được một đoạn thì có tổ công tác Công an thành phố H kiểm tra phát hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình, do lo sợ nên T đã vứt gói giấy nhỏ màu trắng xuống đất cạnh chân T đang đứng, sau đó T nhận thức được hành vi vi phạm của mình nên đã tự giác cầm lên và giao nộp cho Cơ quan Công an và tự khai nhận mục đích tàng trữ của mình là để sử dụng.

Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy nhỏ màu trắng, bên trong có chứa chất rắn màu trắng dạng cục và bột.

Ngày 21/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn T tại đội F, thôn K, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Kết luận giám định số 448/KL - KTHS(MT) ngày 24/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Mẫu chất màu trắng đục dạng cục và bột trong niêm phong, có khối lượng là 0,110g (Không phẩy một một không gam) là ma túy, là loại Heroine có tên khoa học là D. H2 lại 0,101 gam (không phẩy một không một gam) ma túy, loại Heroine trong phong bì niêm phong; 01 mảnh giấy gói ma túy và 01 (một) vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

Tại bản Cáo trạng số 58/CT - VKS - TPHY ngày 30/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 61/2023/HS-ST ngày 08 tháng 12 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Hưng Yên, đã tuyên xử bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 01(một) năm 09(chín) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 21/8/2023.

Ngoài ra bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 21/12/2023, bị cáo Trần Văn T xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Trần Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Người bảo chữa và bị cáo xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh là đúng, sau khi nêu hoàn cảnh gia đình khó khăn, bệnh tật của bản thân, bị cáo và người bảo chữa đều đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Sau khi phân tích, đánh giá hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xác định: Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Trần Văn T mức án 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo không được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T, Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn T trong thời hạn luật định nên hợp lệ được chấp nhận xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai người làm chứng, phù hợp khách quan với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định và vật chứng thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 21/8/2023, tại khu vực trước cửa chung cư T thuộc phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Trần Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,110g (không phẩy một một không gam) heroin mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Bởi hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét kháng cáo của bị cáo Trần Văn T, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt, độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Nên cần thiết phải xét xử bị cáo nghiêm minh theo quy định của pháp luật để cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm chung, tội phạm ma túy nói riêng. Bị cáo T là người có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính và bị xét xử về hành vi trộm cắp tài sản, là người nghiện ma túy đã bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, mà tiếp tục phạm tội, nên cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo như quyết định của bản án sơ thẩm. Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; áp dụng đầy đủ, chính xác các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xem xét nhân thân của bị cáo và xử phạt bị cáo mức án 01 năm 09 tháng tù là phù hợp.

Tại cấp phúc thẩm bị cáo không được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới.

Do đó, HDXX xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như ý kiến đề nghị của bị cáo và người bào chữa. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa có căn cứ chấp nhận.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5].Về án phí: Kháng cáo của bị cáo tuy không được chấp nhận, nhưng bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 343; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 61/2023/HS-ST ngày 08 tháng 12 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 01(một) năm 09(chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 21/8/2023.

2. Án phí: Bị cáo Trần Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

75
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 08/2024/HS-PT

Số hiệu:08/2024/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hưng Yên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:05/02/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về