TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
BẢN ÁN 05/2024/HS-ST NGÀY 23/01/2024 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Ngày 23 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố c, tỉnh D mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 124/2023/TLST - HS ngày 29 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Công Đ, sinh năm 1986 tại thành phố c, tỉnh D; Nơi cư trú: Khu dân cư T, phường V, thành phố c, tỉnh D; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn M và bà Nguyễn Thị B;
Tiền án: 01 tiền án: Bản án số 159/2017/HSST ngày 15/8/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt Lê Công Đ 08 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Đại chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/10/2022, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 28/11/2017;
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/11/2023, đến ngày 07/11/2023 bị tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh D. Có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến: Anh Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1972. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ, ngày 04/11/2023, Lê Công Đ đi xe khách từ nhà ở khu dân cư T, phường V, thành phố c, tỉnh D đến khu vực quảng trường S, phường S, thành phố c, tỉnh D với mục đích để mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, Đ gặp và mua của một người đàn ông không rõ nhân thân, lý lịch được 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Đ cất giấu gói ma túy ở trong túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi đi bộ tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 07 giờ 55 phút cùng ngày, khi Đ đi đến trước cửa số nhà 579, đường N1 thuộc khu dân cư N, phường S, thành phố c thì bị lực lượng Công an phường Sao Đỏ, thành phố c phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong túi quần phía trước bên phải đang mặc của Đ 01 gói giấy màu bạc, kích thước (2 x 2) cm, bên trong chứa chất bột, dạng cục, màu trắng, Đ khai là ma tuý, mục đích cất giấu để sử dụng cho bản thân.
Tại bản Kết luận giám định số 543/KL- KTHS ngày 06/11/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh D kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng trong gói giấy màu bạc được niêm phong trong phong bì có khối lượng là 0,223 gam là ma túy, loại Heroine (khối lượng hoàn lại là 0,162 gam).
Tại bản cáo trạng số 08/CT - VKS - CL ngày 29/12/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố c, tỉnh D đã truy tố bị cáo Lê Công Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như nêu trên, thừa nhận việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố c đối với mình là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Công Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 2 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Công Đ từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/11/2023. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 0,162 gam ma túy, loại Heroine; 01 mảnh giấy màu bạc; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố c, tỉnh D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố c, tỉnh D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 55 phút ngày 04/11/2023, tại phía trước cửa nhà số 579, đường N1, khu dân cư N, phường S, thành phố c, tỉnh D, Lê Công Đ đang có hành vi cất giấu trái phép tại túi quần phía trước bên phải đang mặc 01 gói giấy màu bạc, kích thước (2 x 2) cm, bên trong chứa 0,223 gam ma túy, loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an phường Sao Đỏ, thành phố c phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự và ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, bị nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo cất giấu trái phép 0,223 gam ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân đã cấu thành thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố c, tỉnh D đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân xấu, có 01 tiền án chưa được xóa án tích về tội rất nghiêm trọng. Tuy vậy, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà nay lại cố ý thực hiện hành vi phạm tội nghiêm trọng. Do đó bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận tội nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã tham gia ủng hộ quỹ vì người nghèo phường V, thành phố c, tỉnh D; ông nội của bị cáo khi còn sống được bị cáo chăm sóc, phụng dưỡng là ông Lê Hồng T được Chủ tịch nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhất về thành tích phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam và huân chương hạng nhì vì đã có công lao trong cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nên bị cáo còn được hưởng thêm 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo mục đích trừng trị, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo cất giấu ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân; bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo: 0,223 gam ma túy, loại Heroine, sau khi giám định hoàn lại là 0,162 gam là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; 01 mảnh giấy màu bạc đã dùng để gói ma túy, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định là những vật không còn giá trị, nên cần tịch thu cho tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
[8] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý nên không xem xét.
[9] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Công Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lê Công Đ 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/11/2023.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy: là 0,162 gam ma túy, loại Heroine; 01 mảnh giấy màu bạc; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định được đựng trong 01 phong bì niêm phong mặt trước có chữ “Bộ Công an; Công an tỉnh D; số 543/KL - KTHS; Cơ quan CSĐT - CATP c, tang vật vụ án gửi giám định QĐTC số 73 ngày 04/11/2023”, mặt sau có 03 dấu đỏ giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh D và 03 chữ ký niêm phong mẫu.
(Vật chứng hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố c, tỉnh D quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/01/2024 giữa Công an thành phố c, tỉnh D và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố c, tỉnh D).
Về án phí: Buộc bị cáo Lê Công Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 05/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 05/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Chí Linh - Hải Dương |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 23/01/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về