Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 03/2025/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 03/2025/HS-ST NGÀY 15/01/2025 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 15 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 50/2024/TLST- HS ngày 21 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:

Sơn Sà P, sinh ngày 13 tháng 6 năm 1998; tại huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Lớp 07/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sơn C, sinh năm 1975 và bà Thạch Thị Sà K, sinh năm 1980; bị cáo chưa có vợ; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 10/6/2024 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. (Bị cáo có mặt)

* Người bào chữa cho bị cáo Sơn Sà P: Ông Nguyễn Phong V, Trợ giúp viên của Trung Tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. (có mặt)

* Người làm chứng: Ông Hàng T, sinh 15 tháng 10 năm 1998 (vắng mặt) Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sơn Sà P là người nghiện ma túy và thường xuyên mua ma túy về để sử dụng. Vào lúc khoảng 07 giờ ngày 10/06/2024, Sơn Sà P từ nhà đi đến nhà của ông Hàng T để làm ruộng thuê, sau khi làm xong thì Sơn Sà P và ông Hàng T nhậu với nhau đến khoảng hơn 13 giờ cùng ngày thì nghỉ nhậu, lúc này Sơn Sà P nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng nên mới hỏi mượn ứng trước của ông Hàng T số tiền là 500.000 đồng (nhưng không nói cho ông Hàng T biết là để mua ma túy). Sau đó, ông Hàng T nhờ Sơn Sà P đi cùng với ông Hàng T ra thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng để mua ống về bơm nước vô ruộng lúa thì S Sà P đồng ý đi với ông Hàng T, nên ông Hàng T mới lấy chiếc xe máy biển số 83FA-xxx8 của ông Hàng T để điều khiển chở Sơn Sà P ngồi sau xe đi đến thị trấn M. Khi ra đến thị trấn M thì Sơn Sà P mới nói với ông Hàng T là “Mày chạy xe chở tao đi công chuyện gặp bạn trả tiền một chút rồi hả quay lại mua đồ”, thì ông Hàng T đồng ý nên ông Hàng T điều khiển xe chở Sơn Sà P đi tiếp từ thị trấn M theo sự hướng dẫn chỉ đường của Sơn Sà P để đi qua thành phố S. Khi đến địa bàn phường C, thành phố S, Sơn Sà P chỉ ông Hàng T chạy vào một con hẻm (không nhớ tên hẻm), chạy vào khoảng 300 mét thì S2 kêu ông Hàng T đậu lại xe ở ngoài lộ, rồi Sơn Sà P một mình đi vào dãy nhà trọ tên “Ba Anh E” để tìm mua ma túy sử dụng, rồi mới tìm đến phòng trọ của một người nam thanh niên tên A (Phol không rõ họ tên, chỉ biết mặt do từng mua ma túy của A trước đó) để gặp A hỏi mua ma túy giá 500.000 đồng để sử dụng thì A đồng ý. Tiếp theo A nhận tiền và lấy đưa cho Sơn Sà P  hai bịch nylon chứa chất ma túy đá đã được hàn kín lại hai đầu, gồm một bịch lớn và một bịch nhỏ. Sơn Sà P lấy hai bịch ma túy này bỏ vào bên trong gói thuốc lá đang hút nhãn hiệu Jet màu trắng rồi bỏ vào trong túi áo khoác sơ mi bên trái đang mặc trên người để cất giấu rồi đi trở ra xe cho ông Hàng T chở về hướng thị trấn M (khi ra Sơn Sà P  không nói cho ông Hàng T biết việc Sơn Sà P vừa mua ma túy). Chạy được một đoạn khoảng 300 mét thì lúc đó xe máy của ông Hàng T bị hư không chạy được nữa nên Sơn Sà P và ông Hàng T mới đậu lại xe lên trên lề cập với tuyến lộ trên đường L thuộc ấp C, thị trấn M rồi đi vào lề đường ngồi. Tại đây ông Hàng T gọi điện thoại về nhà cho hay xe bị hư, còn Sơn Sà P thì lấy gói thuốc lá nhãn hiệu Jet có cất giấu ma túy vừa mới mua xong ra để lấy điếu thuốc trong gói đưa cho ông Hàng T hút. Lúc này Sơn Sà P có nói cho ông Hàng T biết là Sơn Sà P vừa mới mua xong được hai bịch ma túy và có cho ông Hàng T xem hai bịch ma túy được cất giấu bên trong gói thuốc lá nhãn hiệu Jet rồi Sơn Sà P cất lại vào trong áo. Cùng lúc này lực lượng Công an ập đến kiểm tra đối với Sơn Sà P và ông Hàng T nên phát hiện Sơn Sà P đang có hành vi tàng trữ bịch nylon đựng tinh thể rắn nghi vấn là ma túy trong gói thuốc để trong túi áo khoác. Quá trình kiểm tra Sơn Sà P khai nhận 02 bịch nylon đựng tinh thể rắn để trong gói thuốc lá là ma túy do Sơn Sà P mua trước đó nên lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Sơn Sà P và tiến hành niêm phong gửi giám định các tang vật. Quá trình điều tra, Sơn Sà P thừa nhận tốt hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại Bản kết luận giám định số: 103/KLMT-KTHS ngày 14/06/2024 của Phòng K1 thuộc Công an tỉnh S kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,2428 gam, loại Methamphetamine.

Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Sóc Trăng thu giữ và đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên quản lý các vật chứng gồm:

- 01 (một) gói niêm phong: 0,1819 gam mẫu tinh thể rắn màu trắng và vỏ, bao gói còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo không màu trong phong bì màu trắng, bên ngoài ghi “phiếu niêm phong, vụ số: 103/2024, ngày 17 tháng 6 năm 2024”, có chữ ký ghi họ tên của những người tham gia đóng gói, niêm phong và 02 (hai) hình dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh S;

- 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu Jet, màu trắng, đã qua sử dụng;

Tại Cáo trạng số 50/CT-VKSMX ngày 19/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng truy tố: Bị cáo Sơn Sà P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận Cáo trạng số 50/CT-VKSMX ngày 19/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Sơn Sà P, xử phạt bị cáo Sơn Sà P từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong: 0,1819 gam mẫu tinh thể rắn màu trắng và vỏ, bao gói còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo không màu trong phong bì màu trắng, bên ngoài ghi “Phiếu niêm phong, vụ số: 103/2024, ngày 17 tháng 6 năm 2024”, có chữ ký ghi họ tên của những người tham gia đóng gói, niêm phong và 02 (hai) hình dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh S và 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu Jet, màu trắng, đã qua sử dụng. Buộc bị cáo Sơn Sà P phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Sơn Sà P, đồng ý tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo Sơn Sà P. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình giảm nhẹ bị cáo là người dân tộc, trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật có phần hạn chế để quyết định mức hình phạt thấp theo đề nghị của kiểm sát viên tại tòa.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Sơn Sà P thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu; không có ý kiến tranh luận; lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định vụ án:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M,Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên toà cũng như trong quá trình điều tra vụ án, bị cáo Sơn Sà P thừa nhận bị cáo là người thường xuyên sử dụng ma túy, nên khoảng 07 giờ ngày 10/06/2024, bị cáo nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng nên mới hỏi mượn của ông Hàng T số tiền là 500.000 đồng và nhờ ông Hàng T lấy chiếc xe máy biển số 83FA-xxx8 chở bị cáo đi gặp bạn trả tiền cho bạn thì ông Hàng T đồng ý. Ông Hàng T điều khiển xe chở bị cáo đi từ thị trấn M theo sự hướng dẫn chỉ đường của bị cáo để đi qua thành phố S. Khi đến địa bàn phường C, thành phố S, bị cáo chỉ ông Hàng T chạy vào một con hẻm, chạy vào khoảng 300 mét thì S2 kêu ông Hàng T đậu lại xe ở ngoài lộ, rồi một mình đi vào dãy nhà trọ tên “Ba Anh E” để tìm mua ma túy sử dụng, rồi mới tìm đến phòng trọ của một người nam thanh niên tên A để gặp A hỏi mua ma túy giá 500.000 đồng để sử dụng thì A đồng ý. A nhận tiền và lấy đưa cho bị cáo hai bịch nylon chứa chất ma túy đá đã được hàn kín lại hai đầu, gồm một bịch lớn và một bịch nhỏ rồi bỏ hai bịch ma túy vào bên trong gói thuốc lá đang hút nhãn hiệu Jet màu trắng cất vào trong túi áo khoác sơ mi bên trái đang mặc trên người để giấu rồi đi trở ra xe cho ông Hàng T chở về hướng thị trấn M. Khi đến thị trấn M, bị cáo nói cho ông Hàng T biết là vừa mới mua xong được hai bịch ma túy và cho ông Hàng T xem hai bịch ma túy được cất giấu bên trong gói thuốc lá nhãn hiệu Jet rồi cất lại vào trong áo. Cùng lúc này lực lượng Công an ập đến kiểm tra phát hiện bị cáo đang có hành vi tàng trữ nên bắt giữ và thu giữ bịch nylon đựng tinh thể rắn nghi vấn là ma túy trong gói thuốc để trong túi áo khoác của bị cáo đưa đi giám định thì phát hiện bên trong là ma túy có chứa thành phần Methamphetamine tổng khối lượng 0,2428 gam.

Nhận thấy, những lời khai trên của bị cáo là tự khai không bị ai ép cung bị cáo khai và được Cơ quan Công an điều tra thực hiện lấy lời khai, hỏi cung theo quy định pháp luật về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đồng thời, những lời khai đó phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 10/6/2024; Biên bản khám nghiệm hiện trường; phù hợp với Biên bản kết luận giám định số: 103/KLMT-KTHS ngày 14/06/2024 của Phòng K1 thuộc Công an tỉnh S cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội hội đồng xét xử khẳng định hành vi của bị cáo Sơn Sà P đã đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma tuý quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Sơn Sà P là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý của nhà nước về chất ma túy nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên truy tố bị cáo Sơn Sà P về tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý” tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Sơn Sà P là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý của nhà nước về chất ma túy, mà còn gây tác động xấu đến sức khoẻ của con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tệ nạn xã hội khác. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo Sơn Sà P phải bị xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời răn đe cho người khác, góp phần vào công tác phòng chống tội phạm.

Từ những nhận định trên đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Sơn Sà P đã mua ma túy có chứa thành phần Methamphetamine tổng khối lượng 0,2428 gam từ một người không rõ địa chỉ mang về cất giấu để sử dụng. Nên bị cáo Sơn Sà P đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Đồng thời các bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, là người dân tộc thiểu số dân tộc Khmer đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại, điểm s Khoản 1 Khoản 2 điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 mà bị cáo được hưởng. Bên cạnh đó, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị giảm nhẹ một phần hình phạt để quyết định hình phạt đối với bị cáo khi lượng hình là có cơ sở chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để quyết định một hình phạt tù có thời hạn tương xứng tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội sau này.

[5] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra vụ án có thu giữ vật chứng gồm: 01 (một) gói niêm phong bằng giấy chứa mẫu vật là ma túy Methamphetamine có khối lượng 0,1819 gam được Phòng K1 Công an tỉnh S hoàn trả sau giám định, được niêm phong; 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu Jet, màu trắng không còn giá trị sử dụng nên căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a Khoản 1 Điều 23; điểm b Khoản 1 Điều 24 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Buộc bị cáo Sơn Sà P phải chịu 200.000 án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên bị cáo Sơn Sà P thuộc đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên thuộc trường hợp được miễn nộp án phí theo quy định điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xét lời đề nghị của vị Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà hôm nay là có căn cứ, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, c Khoản 2, điểm a, b Khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136, Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

- Căn cứ: Điểm a Khoản 1 Điều 23, điểm b Khoản 1 Điều 24, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Sơn Sà P phạm tội: “tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

1. Xử phạt: Bị cáo Sơn Sà P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 10/6/2024.

2.Về xử lý vật chứng tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) gói niêm phong bằng giấy chứa mẫu vật là ma túy Methamphetamine có khối lượng 0,1819 gam được Phòng K1 Công an tỉnh S hoàn trả sau giám định, được niêm phong; 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu Jet, màu trắng không còn giá trị sử dụng.

3.Về án phí: Bị cáo Sơn Sà P không phải án chịu phí hình sự sơ thẩm Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự thủ tục phúc thẩm.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

85
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 03/2025/HS-ST

Số hiệu:03/2025/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mỹ Xuyên - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:15/01/2025
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về